Sign In

Phục hồi và tăng cường bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng

07:19 12/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa phê duyệt Đề án phục hồi và tăng cường quản lý các vùng đất ngập nước quan trọng giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Đề án hướng tới quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước trên phạm vi cả nước, hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo Đề án, mục tiêu trong giai đoạn thực hiện là xác định được danh mục các vùng đất ngập nước quan trọng trên toàn quốc; 100% vùng đất ngập nước quan trọng được bảo tồn, sử dụng bền vững và duy trì các tiêu chí xác lập. Đối với hệ thống khu Ramsar, Đề án đặt mục tiêu 100% khu Ramsar được bảo tồn, sử dụng bền vững và duy trì các tiêu chí theo quy định của Công ước Ramsar.

Cùng với đó, các vi phạm pháp luật tại vùng đất ngập nước quan trọng phải được phát hiện và xử lý theo quy định, số vụ vi phạm giảm dần qua từng năm. Năng lực kiểm tra, thực thi pháp luật, điều tra và quan trắc môi trường cũng sẽ được tăng cường.

Chim xít ở Vườn Quốc gia Tràm Chim. Ảnh: Tùng Đinh.

Xác định rõ nơi suy thoái để phục hồi

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đề án là điều tra, đánh giá, xác định các vùng đất ngập nước quan trọng trên phạm vi toàn quốc. Danh mục hiện có sẽ tiếp tục được rà soát, cập nhật, điều chỉnh theo tình hình thực tiễn tại các địa phương và quy định pháp luật.

Đối với những vùng đã bị suy thoái, cơ quan chức năng sẽ đánh giá mức độ, xác định nguyên nhân và khả năng phục hồi. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, phương án và lộ trình phục hồi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương. Quá trình này phải đồng thời nhận diện và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, tri thức bản địa và tập quán canh tác gắn với vùng đất ngập nước.
Đề án cũng yêu cầu xác định các vùng có tiềm năng đề cử công nhận khu Ramsar, xây dựng hồ sơ và tổ chức đề cử. Mạng lưới các khu Ramsar tại Việt Nam sẽ được vận hành nhằm tăng cường kết nối, trao đổi và chia sẻ thông tin, sáng kiến, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy giá trị danh hiệu Ramsar.

Đối với các vùng bị suy thoái, các giải pháp kỹ thuật sẽ tập trung phục hồi những loài đặc trưng, loài chỉ thị, từng bước khôi phục cấu trúc và chức năng sinh thái đặc thù. Hiệu quả của các biện pháp phục hồi sẽ được đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện và nhân rộng những mô hình hiệu quả.

Hệ sinh thái đa dạng tại khu vực Vườn Quốc gia Tràm Chim. Ảnh: Tùng Đinh.

Kiểm soát các nguồn gây suy thoái

Không chỉ tập trung xử lý những vùng đã suy thoái, Đề án đặt trọng tâm vào việc kiểm soát từ sớm các tác động có nguy cơ làm tổn hại hệ sinh thái đất ngập nước.

Theo đó, các vùng đất ngập nước quan trọng sẽ được quan trắc theo quy định; đồng thời kiểm soát tác động từ các dự án đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và hoạt động khai thác thủy sản, khoáng sản, du lịch có nguy cơ gây suy thoái, ô nhiễm hoặc làm thay đổi đặc tính sinh thái.

Các ảnh hưởng trực tiếp đến vùng đất ngập nước cũng phải được đánh giá trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, dự án phát triển. Việc kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại tại khu Ramsar, khu bảo tồn đất ngập nước và cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng.

Đáng chú ý, Đề án thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước. Công nghệ sẽ được sử dụng để tăng cường giám sát, phát hiện các khu vực có nguy cơ suy thoái, đồng thời phục vụ điều tra, đánh giá và phục hồi hệ sinh thái.

19 vùng đất ngập nước quan trọng được xác định

Phụ lục kèm theo Đề án xác định 19 vùng đất ngập nước quan trọng trên phạm vi toàn quốc. Trong số này có 9 khu Ramsar gồm Ba Bể, Xuân Thủy, Vân Long, Bầu Sấu, Côn Đảo, Láng Sen, Tràm Chim, U Minh Thượng và Mũi Cà Mau.

Bên cạnh đó là các vùng được quy hoạch là vùng đất ngập nước quan trọng như hồ Thác Bà, hồ Hòa Bình, hồ thủy điện Sơn La, Cửa Đại, đầm Trường Giang, Pleikrông, hồ Đồng Nai 3, Bắc Đồng Nai, hồ Thác Mơ và hồ Dầu Tiếng. Danh mục này là cơ sở để UBND cấp tỉnh tiếp tục bổ sung thông tin chi tiết theo quy định.

Để triển khai Đề án, trách nhiệm được phân công từ Trung ương đến địa phương. Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học là đầu mối tham mưu, tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra và tổng kết.

Tùng Đinh

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Thả kỳ đà hoa có trong Sách đỏ Việt Nam về rừng tự nhiên Phú Quốc

Thả kỳ đà hoa có trong Sách đỏ Việt Nam về rừng tự nhiên Phú Quốc

Cá thể kỳ đà hoa nặng 20 kg, dài khoảng 2m được người dân phát hiện tại một nhà hàng ở Phú Quốc đã được tái thả về rừng tự nhiên.

62.600 loài sinh vật và bài toán giữ gìn tài sản sinh học của Việt Nam

Khoảng 62.600 loài sinh vật đã được xác định cho thấy sự phong phú của tài sản sinh học Việt Nam. Báo cáo về thực trạng quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy nguồn lực tài nguyên thiên nhiên giai đoạn 2021-2025 dẫn nguồn WWF ghi nhận thêm 112 loài động, thực vật mới được phát hiện, trong đó 106 loài đặc hữu; đồng thời dẫn thống kê của IUCN cho biết có 406 loài ở tình trạng bị đe dọa. Những con số vừa thể hiện giá trị đặc biệt của đa dạng sinh học, vừa đặt ra một bài toán cấp thiết: bảo vệ loài phải đi cùng bảo vệ sinh cảnh, nguồn gen và các quá trình sinh thái trước sức ép phân mảnh hệ sinh thái, khai thác và buôn bán động vật hoang dã trái pháp luật, biến đổi khí hậu và sinh vật ngoại lai xâm hại.
Đa dạng sinh học - “vốn tự nhiên” cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển

Đa dạng sinh học - “vốn tự nhiên” cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển

Đến năm 2025, Việt Nam có 180 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích hơn 2,6 triệu ha, tăng 4 khu và khoảng 87.000 ha so với năm 2020; đồng thời hình thành thêm 3 hành lang đa dạng sinh học. Đằng sau những con số về diện tích bảo tồn là một yêu cầu lớn hơn: cần chuyển từ cách nhìn bảo tồn chủ yếu như một khoản chi cho môi trường sang coi đa dạng sinh học là “vốn tự nhiên” - nền tảng của sinh kế, an ninh sinh thái, khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Khi hệ sinh thái được bảo vệ và phục hồi, giá trị tạo ra không chỉ dành cho thiên nhiên, mà trở lại trực tiếp với nền kinh tế và đời sống con người.