Sign In

Cà Mau kiến tạo kinh tế xanh: [Bài1] Giảm phát thải từ nông nghiệp và rừng

08:00 30/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Từ đồng lúa, ao tôm đến rừng ngập mặn, Cà Mau xác định những dư địa cụ thể để giảm phát thải, tăng hấp thụ carbon và phát triển nông nghiệp tuần hoàn.

Ba nguồn phát thải cần tập trung

Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất của Cà Mau, nhưng cũng là lĩnh vực đặt ra yêu cầu chuyển đổi theo hướng phát thải thấp. Mặc dù hiện chưa có hệ thống kiểm kê khí nhà kính chi tiết đến từng ngành hàng cấp tỉnh, mức phát thải các-bon trong nông nghiệp ở Cà Mau được xác định ở mức trung bình, tập trung vào ba nguồn chính gồm trồng lúa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Trong trồng trọt, cây lúa là một trong những nguồn phát thải mê-tan (CH4) đáng chú ý. Với đặc thù Cà Mau có vùng luân canh lúa - tôm hàng trăm nghìn ha, phương thức canh tác ngập nước truyền thống có thể làm gia tăng phát thải mê-tan, nhất là khi quản lý nước và phụ phẩm chưa tối ưu. Từ thực tế đó, thay đổi phương thức canh tác là một trong những hướng giảm phát thải có thể triển khai ngay trên đồng ruộng. Các mô hình canh tác cải tiến tại địa phương đã cho thấy tiềm năng giảm phát thải, trong đó có áp dụng kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ.

Nuôi trồng thủy sản phát sinh phát thải từ tiêu thụ điện, sử dụng thức ăn công nghiệp và quá trình xử lý ao nuôi. Ảnh: Trọng Linh.

Nguồn phát thải thứ hai là chăn nuôi, chủ yếu từ mê-tan phát sinh trong quá trình tiêu hóa và xử lý chất thải. Ở quy mô quốc gia, ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15 triệu tấn CO2 tương đương mỗi năm, trong đó chăn nuôi heo chiếm tỷ trọng lớn. Đối với Cà Mau, dù chăn nuôi không phải ngành chủ lực như thủy sản, nhưng với xu hướng gia tăng tổng đàn và hình thức nuôi nhỏ lẻ, phát thải phân tán và khó kiểm soát, tạo áp lực đáng kể đến môi trường. Việc xử lý chất thải chưa đồng bộ khiến khí mê-tan phát sinh trực tiếp ra môi trường.

Nguồn thứ ba gắn trực tiếp với một ngành kinh tế chủ lực của tỉnh: nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm. Hoạt động này phát sinh phát thải từ tiêu thụ điện, sử dụng thức ăn công nghiệp và quá trình xử lý ao nuôi. Thực tiễn triển khai các mô hình ứng dụng năng lượng tái tạo và biogas cho thấy lĩnh vực này còn dư địa để giảm phát thải khí nhà kính. 

Ngoài ba nguồn trên, hoạt động đốt phụ phẩm nông nghiệp, sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật còn phổ biến, vừa liên quan đến phát thải CO2, N2O, vừa gây sức ép lên tài nguyên đất và môi trường sinh thái.

Như vậy, bài toán giảm phát thải trong nông nghiệp Cà Mau không nằm ở một khâu riêng lẻ. Từ cách quản lý nước trên ruộng lúa, xử lý chất thải chăn nuôi, sử dụng điện trong ao nuôi đến quản lý phụ phẩm đều là những mắt xích cần thay đổi nếu muốn chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất phát thải thấp.

Ở quy mô quốc gia, ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15 triệu tấn CO2 tương đương mỗi năm, trong đó chăn nuôi heo chiếm tỷ trọng lớn. Ảnh: Trọng Linh.

Ở chiều ngược lại với phát thải, Cà Mau có một nguồn lực đáng kể để hấp thụ và lưu trữ các-bon là hệ sinh thái rừng ngập mặn. Hiện 28/29 chủ rừng là tổ chức đã xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và 2.121 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững. Tuy nhiên, tình trạng sạt lở làm mất rừng ven biển vẫn diễn ra, kéo theo sự suy giảm khả năng hấp thụ các-bon tự nhiên của hệ sinh thái. 

Điều đó đặt giảm phát thải và tăng hấp thụ các-bon trong cùng một bài toán: vừa phải thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp, vừa bảo vệ và nâng cao chất lượng những hệ sinh thái có khả năng lưu giữ các-bon.

Từ giảm đầu vào đến phát triển thị trường các-bon

Đề án 09-DA/TU của Tỉnh ủy Cà Mau về phát triển kinh tế xanh - kinh tế tuần hoàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định một hệ thống giải pháp cho lĩnh vực nông, lâm nghiệp.

Với cây lúa, định hướng là áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ, đồng thời giảm phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Đây là hướng chuyển đổi trực tiếp từ phương thức canh tác sang sử dụng đầu vào và tài nguyên hiệu quả hơn.

Ở phạm vi rộng hơn, tỉnh định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học, chăn nuôi an toàn sinh học và ít phát thải. Đáng chú ý, sản xuất còn được định hướng gắn với chứng nhận carbon và thị trường tín chỉ carbon, qua đó đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp trong mối liên hệ với những giá trị mới có thể hình thành từ quá trình chuyển đổi.

Một trụ cột khác là phát triển mô hình tuần hoàn trong nông nghiệp. Thay vì coi rơm rạ, bùn thải, vỏ sò, vỏ nghêu hay phân động vật đơn thuần là chất thải phải xử lý, Đề án định hướng đưa các nguồn phụ phẩm này trở lại chu trình sản xuất để làm phân hữu cơ và năng lượng sinh học.

Cách tiếp cận này tạo sự liên kết giữa hai mục tiêu của Đề án: kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Giảm phát thải không tách rời việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên, còn phụ phẩm của một công đoạn có thể trở thành nguyên liệu cho công đoạn sản xuất khác.

Giải pháp không chỉ hướng tới bảo vệ rừng như một nguồn tài nguyên mà còn khai thác đồng thời nhiều giá trị từ rừng, trong đó có khả năng hấp thụ và lưu trữ các-bon. Ảnh: Trọng Linh.

Đối với lâm nghiệp, Đề án đặt trọng tâm vào thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với những loại dịch vụ có khả năng triển khai trên địa bàn như sử dụng nguồn nước và du lịch sinh thái. Cùng với đó là phát triển lâm nghiệp đa giá trị gắn với thị trường các-bon, nâng cao chất lượng rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn. Các sinh kế dưới tán rừng như tôm - rừng, du lịch sinh thái, phát triển dược liệu và lâm sản ngoài gỗ cũng được đặt trong định hướng này. Điểm đáng chú ý là các giải pháp không chỉ hướng tới bảo vệ rừng như một nguồn tài nguyên mà còn khai thác đồng thời nhiều giá trị từ rừng, trong đó có khả năng hấp thụ và lưu trữ các-bon.

Từ ruộng lúa đến ao tôm và rừng ngập mặn, Cà Mau có thể tiếp cận giảm phát thải theo cả hai chiều: giảm lượng khí nhà kính phát sinh từ hoạt động sản xuất và nâng cao khả năng hấp thụ, lưu trữ các-bon của hệ sinh thái. Đó cũng là cơ sở để mục tiêu giảm phát thải được đặt trong một không gian rộng hơn của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trong đó hiệu quả sản xuất, sử dụng tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái và những cơ hội từ thị trường các-bon được kết nối với nhau.

Trọng Linh - Trung Chánh

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Chuyển đổi số từ dữ liệu: [Bài 4] Xây nền tảng số cho thị trường carbon

Chuyển đổi số từ dữ liệu: [Bài 4] Xây nền tảng số cho thị trường carbon

Dữ liệu hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon, các tổ chức tham gia thị trường carbon tại Việt Nam được quản lý tập trung, thống nhất trên một nền tảng số.
Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi

Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi

Trong hai ngày từ 10 - 11/10, tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), diễn ra “Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi”.
[Infographic] - Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

[Infographic] - Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Giảm phát thải cần được đo lường, báo cáo, thẩm định bằng hệ thống MRV, bảo đảm kết quả giảm nhẹ minh bạch, chính xác, có thể kiểm chứng và hỗ trợ quản lý tốt.