Vùng đáy biển ở Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm (TP.Đà Nẵng) có những 'cánh đồng' cỏ biển đóng vai trò như những 'bể chứa' carbon khổng lồ.
Ông Lê Vĩnh Thuận, Phó giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm cho biết, tại Cù Lao Chàm, khảo sát thực địa của các chuyên gia khu bảo tồn cùng TS Nguyễn Văn Long (Viện Hải dương học) cho thấy nơi đây từng sở hữu những thảm cỏ biển trù phú với 5 loài chủ yếu: cỏ xoan, cỏ xoan đơn, cỏ kim, cỏ hẹ ba răng và cỏ kiệu tròn.
Thảm cỏ biển là hệ sinh thái carbon xanh quan trọng ở vùng ven biển, không chỉ hấp thụ CO2 qua quang hợp mà còn lưu giữ carbon lâu dài trong sinh khối và lớp trầm tích đáy. Các thảm cỏ biển không chỉ là nơi cư trú, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài sinh vật biển, đặc biệt là các loài nguy cấp như rùa biển mà còn góp phần vào việc ổn định nền đáy, giảm xói mòn. Cạnh đó nó đóng vai trò như “bể chứa carbon sinh học” hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Thảm cỏ biển tại Bãi Bắc - khu vực có thảm cỏ lớn nhất tại Cù Lao Chàm. Ảnh: Thảo Trần.Số liệu quan trắc của Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm giai đoạn 2021 - 2025 cũng cho thấy độ phủ trung bình toàn vùng chỉ dao động từ 9,2 - 14,55%. Bãi Bắc và Bãi Nần được coi là 2 khu vực có thảm cỏ lớn nhất tại Cù Lao Chàm. Thảm cỏ biển tại Bãi Bắc dao động ổn định với độ phủ quanh mức 35%, với sự phân bố phong phú của các loài cỏ biển như cỏ kiệu tròn, cỏ xoan và cỏ kim. Tuy nhiên tại Bãi Nần, độ phủ lại có sự tăng giảm đột biến, trong đó độ phủ cao nhất vào năm 2021 và 2024 quanh mức 25% và giảm chỉ còn một nửa quanh mức 13% vào các năm 2022, 2023 và 2025.
Còn theo nghiên cứu gần đây, diện tích thảm cỏ biển ở Cù Lao Chàm hiện khoảng hơn 15 ha. Dù không lớn so với nhiều vùng biển khác của Việt Nam nhưng khu vực này có ý nghĩa đặc biệt vì nằm trong vùng bảo tồn, nơi hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và nguồn lợi thủy sản gắn chặt với sinh kế cộng đồng. Hệ sinh thái này không chỉ là "ngôi nhà dưới đáy biển" của nhiều loài sinh vật mà còn là bể chứa carbon xanh đầy tiềm năng.
Ông Lê Vĩnh Thuận cũng đánh giá tín chỉ carbon từ cỏ biển là hướng đi giàu tiềm năng. Dự án "Thí điểm phục hồi cỏ biển kết hợp cải thiện sinh kế tại Cù Lao Chàm" do Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam tài trợ giai đoạn 2025 - 2027 đang tạo nền tảng cho các bước đi tiếp theo. Tuy nhiên, để thương mại hóa tín chỉ carbon xanh, Cù Lao Chàm cần một chiến lược phục hồi khoa học và quyết liệt hơn. Bởi sẽ không thể có tín chỉ carbon nếu thảm cỏ biển tiếp tục bị "bào mòn" bởi rác thải và các hoạt động dân sinh.
Th.S sinh thái học Trần Thị Phương Thảo (Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm) cho rằng, tín chỉ carbon là chứng chỉ có thể thương mại hóa, đại diện cho quyền phát thải một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính tương đương. Với cỏ biển, tín chỉ được tạo ra từ việc bảo tồn và phục hồi các thảm cỏ để chúng tiếp tục hấp thụ, lưu giữ carbon trong trầm tích hàng nghìn năm. Tại nhiều bãi được quan trắc định kỳ ở Cù Lao Chàm, các chuyên gia ghi nhận lớp trầm tích dày từ 5 - 10 cm. Đây được xem là "kho báu" carbon chờ được định giá nếu hệ sinh thái được bảo vệ hiệu quả.
Do đó, theo bà Thảo, nỗ lực phục hồi và quản lý tốt thảm cỏ biển Cù Lao Chàm không chỉ giúp gia tăng tiềm năng carbon xanh mà còn góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, giảm áp lực khai thác ven bờ và củng cố mô hình đồng quản lý dựa vào cộng đồng. Việc phục hồi sinh khối của một số loài cỏ có kích thước lớn, ổn định như cỏ kiệu tròn, cỏ vích… trong điều kiện nền đáy phù hợp chính là cơ hội để hiện thực hóa mục tiêu tín chỉ carbon.
"Trong tương lai, nếu khôi phục thành công diện tích 50 ha cỏ biển như năm 2004, với khả năng tích trữ carbon gấp đôi rừng nhiệt đới, trữ lượng carbon xanh tại đây sẽ là con số rất lớn, thực sự là một "mỏ kim cương" sinh thái", Th.S Phương Thảo nhận định.
Còn theo các chuyên gia sinh thái, việc ổn định nền đáy và giảm áp lực du lịch cần được ưu tiên. Nghiên cứu tại đây cho thấy sự xáo trộn nền đáy do ca nô cao tốc tại Bãi Ông và Bãi Hương là nguyên nhân khiến cỏ biển khó tái sinh. Vì vậy, cần quy hoạch lại giao thông thủy và thiết lập vùng cấm neo đậu tại những khu vực có tiềm năng phục hồi cao như Bãi Bắc, Bãi Nần.
Cù Lao Chàm cũng cần triển khai các dự án phục hồi sinh cảnh chủ động, ưu tiên những loài cỏ có kích thước và sinh khối lớn khi nền đáy được tái ổn định. Đồng thời, cần khoanh vùng bảo vệ các thảm cỏ tự nhiên để hạn chế tác động từ con người. Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng hệ thống đo đạc trữ lượng carbon đạt chuẩn quốc tế, làm cơ sở pháp lý cho việc cấp tín chỉ. Đây là bước đi cần sự phối hợp giữa các nhà khoa học hải dương và các tổ chức tài chính xanh.
Bởi theo nhìn nhận của các chuyên gia, tín chỉ carbon không chỉ là nguồn tài chính bền vững cho người dân xã đảo mà còn là thước đo cho sự thành công trong việc "trả nợ" cho đại dương.
So với các nước trong khu vực, Việt Nam hiện đứng thứ 3 về đa dạng loài cỏ biển, chỉ sau Úc (20 loài) và Philippines (16 loài). |