Sign In

Chống khai thác IUU: Chuyển mạnh từ “hoàn thành nhiệm vụ” sang kết quả thực chất, có thể kiểm chứng

10:18 28/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai đồng bộ các nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch hành động của Chính phủ khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) sau đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Điểm đáng chú ý của đợt triển khai này là yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý bằng báo cáo sang quản lý bằng dữ liệu, hồ sơ điện tử và kết quả thực thi có thể kiểm chứng; gắn tiến độ từng nhiệm vụ với trách nhiệm cụ thể của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.

Ngày 10/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1516/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác IUU.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Bộ, xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn, sản phẩm đầu ra và chỉ tiêu đánh giá đối với từng nhiệm vụ. Cục Thủy sản và Kiểm ngư được giao làm cơ quan đầu mối theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp tình hình thực hiện. 

Mục tiêu trước mắt là xử lý thực chất những tồn tại đã được EC chỉ ra, đồng thời chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thực thi để Việt Nam cập nhật kết quả chống khai thác IUU và việc thực hiện các khuyến nghị của EC tới Tổng vụ Các vấn đề về Biển và Thủy sản của Ủy ban châu Âu (DG MARE) trước ngày 01/10/2026. 

Không đánh giá hoàn thành chỉ bằng văn bản, báo cáo

Một yêu cầu xuyên suốt của Kế hoạch là thay đổi cách đánh giá kết quả. Theo đó, mỗi nhiệm vụ không chỉ cần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm”, mà kết quả thực hiện còn phải được chứng minh bằng dữ liệu, hồ sơ điện tử, tài liệu kiểm chứng và kết quả thực thi thực tế.

Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác chống khai thác IUU. Một tàu cá được quản lý không chỉ vì đã có tên trong một báo cáo; một trường hợp vi phạm không thể coi là đã xử lý chỉ vì đã chuyển hồ sơ; và nguồn gốc một lô thủy sản không thể được xác nhận chỉ dựa trên các giấy tờ rời rạc nếu dữ liệu giữa tàu cá, cảng cá, cơ quan quản lý và doanh nghiệp không thể đối chiếu với nhau.

Kế hoạch vì vậy đặt trọng tâm vào những khâu có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng kiểm soát hoạt động khai thác: quản lý đội tàu; giám sát tàu cá trên biển và tại cảng; truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trong nước; kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu; thực thi pháp luật; chuyển đổi số và kết nối dữ liệu. Đồng thời, kết quả thực hiện nhiệm vụ chống IUU được xác định là một căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu.

Quản lý đội tàu trên một hệ thống dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”

Một trong những trọng tâm đầu tiên là tiếp tục làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu đội tàu. Các địa phương được theo dõi, hướng dẫn cập nhật toàn bộ tàu cá trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase), với yêu cầu dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Theo Phụ lục Kế hoạch, mục tiêu đặt ra là 100% tàu đăng ký có dữ liệu mới nhất; đồng thời toàn bộ tàu có nguy cơ cao vi phạm IUU và tàu đã xóa đăng ký phải được cập nhật để phục vụ theo dõi, kiểm soát. Cùng với quản lý dữ liệu nền, Hệ thống giám sát tàu cá (VMS) và Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) được khai thác để giám sát hoạt động tàu cá từ trên biển tới cảng và tại bờ.

Các trường hợp mất kết nối VMS, vượt ranh giới khai thác, tháo, gửi hoặc vô hiệu hóa thiết bị giám sát phải được phát hiện, ghi nhận và chuyển xử lý. Kế hoạch còn đặt yêu cầu thiết lập hệ thống cảnh báo tự động VMS-Alert, hoạt động 24/7, đối với tàu mất kết nối, vượt ranh giới, có hành trình bất thường hoặc nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài.

Mục tiêu được lượng hóa khá rõ: 100% sự kiện vi phạm phải được cảnh báo và chuyển ngay tới cơ quan xử lý. Đây là bước chuyển quan trọng từ việc phát hiện vi phạm sau khi xảy ra sang chủ động nhận diện nguy cơ để can thiệp sớm.

Truy xuất nguồn gốc phải đi xuyên suốt từ tàu cá đến doanh nghiệp

Một trọng tâm khác là kiểm soát chặt chuỗi cung ứng thủy sản khai thác. Sản lượng thủy sản thực tế bốc dỡ qua cảng phải được khai báo trên eCDT; hồ sơ xác nhận, chứng nhận nguồn gốc phải minh bạch, hợp pháp và có khả năng đối chiếu liên thông từ tàu cá - cảng cá - cơ quan quản lý thủy sản - doanh nghiệp thu mua - chế biến - xuất khẩu.

Kế hoạch đặt mục tiêu 100% hồ sơ thuộc diện quản lý được cập nhật, đối chiếu trên eCDT và 100% trường hợp có sai lệch hoặc dấu hiệu vi phạm được chuyển xử lý. 

Đối với nhóm sản phẩm có nguy cơ cao, đặc biệt cá ngừ, cá kiếm và các sản phẩm xuất khẩu sang thị trường châu Âu, yêu cầu kiểm soát được đẩy sâu tới khâu chế biến.

Các doanh nghiệp thuộc diện kiểm tra phải xác định và công bố định mức tỷ lệ thu hồi sau chế biến, chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số liệu. Cơ quan chức năng đồng thời xây dựng quy trình kiểm soát nhà máy chế biến, tổ chức kiểm tra theo đánh giá rủi ro và tăng cường kiểm tra đột xuất.

Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm lượng nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra và hồ sơ chứng nhận có thể kiểm tra chéo, hạn chế nguy cơ hợp thức hóa nguồn nguyên liệu không rõ nguồn gốc.

Kiểm soát cả nguyên liệu thủy sản nhập khẩu

Chống khai thác IUU không chỉ dừng ở nguồn thủy sản khai thác trong nước. Kế hoạch yêu cầu thiết lập nghĩa vụ doanh nghiệp báo cáo kết quả phân loại kích cỡ, khối lượng nguyên liệu nhập khẩu; đồng thời kết nối, đối chiếu dữ liệu giữa hải quan, kho lạnh, chế biến, định mức và hồ sơ xuất khẩu.

Đối với những lô hàng hoặc doanh nghiệp có nguy cơ cao, cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra đột xuất. Khi phát hiện lô hàng vi phạm đã xuất khẩu hoặc đang trong quá trình vận chuyển, phải có cơ chế thông báo kịp thời tới EC và quốc gia thành viên liên quan.

Mục tiêu đặt ra là 100% lô nghi vấn được cảnh báo, kiểm tra và 100% vụ việc thuộc diện phải thông báo được thông báo kịp thời. 

Một tàu cá - một mã định danh - một hồ sơ điện tử

Chuyển đổi số được đặt ở vị trí trung tâm trong hệ thống giải pháp lần này. Các cơ sở dữ liệu nghề cá gồm VNFishbase, VMS, eCDT, dữ liệu xử phạt, dữ liệu hải quan và dữ liệu kiểm soát xuất, nhập bến được định hướng kết nối, tích hợp và liên thông trên nền tảng quản lý nghề cá dùng chung.

Nguyên tắc được xác định là: “Một dữ liệu - Một hệ thống - Một quy trình - Một kết quả”.

Theo đó, mỗi tàu cá gắn với một mã định danh và một hồ sơ điện tử thống nhất; toàn bộ quy trình cấp giấy xác nhận nguyên liệu, giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác được tích hợp vào eCDT, bảo đảm khả năng truy vết, lưu trữ và kiểm tra chéo. Hệ thống phải được bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và vận hành liên tục 24/7. 

Cục Chuyển đổi số được giao chủ trì nhiệm vụ xây dựng nền tảng quản lý nghề cá dùng chung, kết nối dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và hạ tầng vận hành các cơ sở dữ liệu, phần mềm nghiệp vụ chống IUU. 

Như vậy, dữ liệu không còn chỉ đóng vai trò hỗ trợ quản lý, mà trở thành một phần của bằng chứng thực thi.

Xử lý vi phạm phải đi đến kết quả cuối cùng

Cùng với phòng ngừa và giám sát, Kế hoạch yêu cầu tăng cường thực thi pháp luật và xử lý dứt điểm các vụ việc.

Cơ quan chuyên môn có trách nhiệm hướng dẫn các địa phương áp dụng thống nhất quy định xử lý vi phạm; thường xuyên đôn đốc hoàn thành việc xác minh, xử lý trong thời hạn pháp luật quy định. Đối với vụ việc có đủ điều kiện xử lý, Kế hoạch đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành không quá 60 ngày kể từ ngày lập hồ sơ; trường hợp kéo dài phải xác định rõ lý do và trách nhiệm.

Kết quả xử phạt phải được cập nhật đầy đủ lên cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Các địa phương trọng điểm, nơi để vi phạm tái diễn hoặc có dấu hiệu báo cáo không trung thực sẽ thuộc diện tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm tra đột xuất. 

Thông điệp ở đây rất rõ: phát hiện vi phạm mới chỉ là bước đầu; một vụ việc chỉ thực sự khép lại khi được xác minh, xử lý và có dữ liệu chứng minh kết quả xử lý.

Cao điểm toàn quốc đến ngày 15/9

Để tạo chuyển biến rõ rệt trong thời gian ngắn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai “Tháng cao điểm” thực hiện công tác chống khai thác IUU trên phạm vi toàn quốc đến hết ngày 15/9/2026. 

Trong thời gian này, các cơ quan, đơn vị tập trung xử lý những nhiệm vụ còn tồn tại, nhất là quản lý đội tàu; đăng ký, đăng kiểm, cấp phép; duy trì kết nối VMS; kiểm soát tàu xuất, nhập bến; vận hành VNFishbase và eCDT; truy xuất nguồn gốc; kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu; xác minh và xử lý vi phạm mất kết nối VMS, vượt ranh giới khai thác và khai thác bất hợp pháp tại vùng biển nước ngoài. 

Sau đợt cao điểm, từng nhiệm vụ phải được đánh giá cụ thể: việc nào đã hoàn thành, việc nào chưa hoàn thành, nguyên nhân ở đâu và trách nhiệm thuộc về ai.

Các đơn vị gửi báo cáo về Cục Thủy sản và Kiểm ngư trước ngày 20/9/2026, làm cơ sở tổng hợp báo cáo Lãnh đạo Bộ, Thủ tướng Chính phủ và chuẩn bị báo cáo cập nhật tiến độ chống khai thác IUU gửi EC trước ngày 01/10/2026. 

Từ chống IUU đến xây dựng nghề cá có trách nhiệm

Kế hoạch cũng dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho hợp tác quốc tế, thông tin và truyền thông. Việt Nam sẽ tiếp tục chủ động trao đổi, giải trình, cung cấp thông tin cho EC; chuẩn bị bộ hồ sơ quốc gia thống nhất, chính xác và có tài liệu kiểm chứng; tăng cường hợp tác với các quốc gia ven biển, quốc gia treo cờ và các tổ chức quốc tế trong xác minh, xử lý tàu cá vi phạm.

Song song với đó là tuyên truyền pháp luật tới chủ tàu, thuyền trưởng, ngư dân và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh thông tin đối ngoại về kết quả chống khai thác IUU, qua đó góp phần khẳng định uy tín quốc gia và thúc đẩy một ngành thủy sản phát triển bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế. 

Đây cũng là điểm cần nhìn rộng hơn câu chuyện “Thẻ vàng”.

Gỡ cảnh báo IUU của EC là mục tiêu cấp thiết, nhưng không phải đích đến cuối cùng. Điều quan trọng hơn là những yêu cầu của quá trình khắc phục IUU đang thúc đẩy Việt Nam xây dựng một phương thức quản trị nghề cá mới: quản lý đội tàu bằng dữ liệu; giám sát bằng công nghệ; truy xuất nguồn gốc xuyên suốt chuỗi; thực thi pháp luật có kết quả kiểm chứng; và xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư là đầu mối điều phối, trong khi Cục Chuyển đổi số, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế, Văn phòng Bộ cùng các đơn vị liên quan được phân công nhiệm vụ cụ thể. Riêng Văn phòng Bộ theo dõi chương trình công tác, đôn đốc thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, tổng hợp báo cáo giao ban và phối hợp tổ chức các hội nghị, đoàn công tác của Lãnh đạo Bộ về IUU. 

Các đơn vị phải cập nhật tiến độ trước 16 giờ thứ Năm hằng tuần; nhiệm vụ chậm tiến độ phải nêu nguyên nhân, trách nhiệm, giải pháp khắc phục và thời hạn hoàn thành mới. Công tác kiểm tra tập trung vào các địa phương trọng điểm, chậm khắc phục tồn tại, hạn chế. 

Nếu những yêu cầu này được duy trì không chỉ trong đợt cao điểm mà trở thành phương thức quản trị thường xuyên, kết quả lớn nhất sẽ không chỉ là đáp ứng các khuyến nghị của EC. Đó còn là nền tảng để Việt Nam từng bước hình thành nghề cá minh bạch, có trách nhiệm, hiện đại và bền vững, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo đảm sinh kế lâu dài cho ngư dân và nâng cao vị thế thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

CTTĐT

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
TP.HCM dùng GPS giám sát tàu cá, ngăn vi phạm IUU ngay từ bờ

TP.HCM dùng GPS giám sát tàu cá, ngăn vi phạm IUU ngay từ bờ

GPS giúp TP.HCM theo dõi vị trí, cảnh báo tàu tự ý di chuyển hoặc tháo thiết bị, chủ động kiểm soát tàu cá không đủ điều kiện, giảm áp lực kiểm tra.

TPHCM quy định tạm 6 bến cá nhằm sớm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" EC

UBND TP.HCM vừa ký quyết định công bố tạm thời 6 điểm lên cá (bến cá) trên địa bàn thành phố nhằm tăng cường kiểm soát, ngăn chặn hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Thời gian áp dụng quyết định đến hết ngày 31/12/2027.

Sửa đổi, bổ sung 3 thủ tục hành chính về thủy sản, kiểm ngư

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 3663/QĐ-BNNMT về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.