Ngày 21/8, tại TP Cần Thơ, Cục Quản lý tài nguyên nước, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á phối hợp Tổ chức Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) tổ chức hội thảo “Phương châm chủ động nước tại chỗ - Giải pháp góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước vùng ĐBSCL”.

Hội thảo “Phương châm chủ động nước tại chỗ – Giải pháp góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước vùng ĐBSCL”. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Hội thảo tập trung trao đổi các giải pháp quản trị, bảo vệ, thu trữ và sử dụng nước hiệu quả. Đồng thời chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn, mô hình tại các địa phương nhằm nâng cao khả năng thích ứng của vùng trước những biến động ngày càng phức tạp về nguồn nước.
Suy giảm nguồn nước, gia tăng rủi
Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu nhiều thách thức về an ninh nguồn nước. Ở góc độ bảo tồn thiên nhiên, ông Hoàng Việt, Giám đốc Chương trình nước ngọt WWF, cho rằng ĐBSCL là vùng đất được kiến tạo bởi nước. Nước tạo nên hệ sinh thái, sinh kế, văn hóa và đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực, xuất khẩu nông sản, thủy sản. Tuy nhiên, suy giảm nguồn nước mùa khô, xâm nhập mặn, sụt lún, ô nhiễm và biến đổi khí hậu đang gia tăng rủi ro đối với con người, hệ sinh thái và nền kinh tế.

Ông Hoàng Việt, đại diện WWF chia sẻ về rủi ro nguồn nước và an ninh nguồn nước vùng ĐBSCL. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
TS Trần Thái Hùng, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, nhận định: ĐBSCL đang chịu nhiều tác động từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu, sụt lún đất, xâm nhập mặn, khai thác nước ngầm và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Những yếu tố này làm gia tăng nguy cơ thiếu nước ngọt trong mùa khô, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân.
Ông Trần Chí Trung, Viện trưởng Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, cũng chỉ ra những thách thức trong quản lý tài nguyên nước như nguồn nước mặt phụ thuộc nhiều vào ngoại sinh, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, suy thoái và ô nhiễm nguồn nước, trong khi hiệu quả sử dụng nước chưa cao. ĐBSCL còn chịu tác động nghiêm trọng từ dòng chảy thượng nguồn, xâm nhập mặn và nước biển dâng.

Ông Trần Chí Trung, Viện trưởng Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, cũng chỉ ra những thách thức trong quản lý tài nguyên nước như nguồn nước mặt phụ thuộc nhiều vào ngoại sinh, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Trong khi đó, nguồn nước mặt của vùng phụ thuộc lớn vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công. Biến động dòng chảy, xâm nhập mặn, suy giảm chất lượng nước và khai thác nước dưới đất đang đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng và trữ nước.
Từ thực tế trên, các chuyên gia cho rằng bên cạnh đầu tư hạ tầng, ĐBSCL cần nâng cao năng lực chủ động của từng địa phương, cộng đồng và người dân; từ bảo vệ, giữ, thu trữ nước đến sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và chủ động ứng phó khi thiếu nước, xâm nhập mặn.
Chủ động nước tại chỗ
Ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, cho biết: Trước yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước ngày càng cấp thiết, đòi hỏi đổi mới tư duy quản lý theo hướng tổng hợp, chủ động, dựa trên dữ liệu, tăng cường điều phối và nâng cao khả năng thích ứng từ cơ sở.
Theo ông Hà, Luật Tài nguyên nước năm 2023 tạo bước chuyển quan trọng trong quản lý tài nguyên nước, hướng tới quản lý thống nhất, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm an ninh nguồn nước. Trong đó, phương châm “chủ động nước tại chỗ” nhằm phát huy nguồn lực của chính quyền địa phương, cộng đồng, doanh nghiệp và người dân trong bảo vệ, thu trữ, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nước.

Ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, cho rằng, việc “Chủ động nước tại chỗ” không thay thế các công trình và cơ chế điều phối ở cấp vùng, liên vùng, quốc gia mà đóng vai trò bổ sung, giúp tăng khả năng tự chủ và ứng phó rủi ro ngay từ cơ sở. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
“Chủ động nước tại chỗ” không thay thế các công trình và cơ chế điều phối ở cấp vùng, liên vùng, quốc gia mà đóng vai trò bổ sung, giúp tăng khả năng tự chủ và ứng phó rủi ro ngay từ cơ sở. Với ĐBSCL, phương châm này càng có ý nghĩa khi vùng đang chịu tác động của suy giảm nguồn nước mùa khô, hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún, ô nhiễm, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những thay đổi từ thượng nguồn.

Trước áp lực hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún và biến động nguồn nước, ĐBSCL cần chuyển từ ứng phó sang chủ động, kết hợp công trình lớn với giải pháp trữ nước phân tán. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Hình thành mạng lưới trữ nước phân tán
Từ thực tiễn tại tỉnh Cà Mau, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Cà Mau, cho rằng: Việc “chủ động nước tại chỗ” cần được xem là một phương thức quản trị nước tổng hợp. Người dân, cộng đồng và chính quyền cùng tham gia bảo vệ nguồn nước, thu trữ, điều hòa, phân phối, sử dụng tiết kiệm và tái sử dụng nước, qua đó bổ trợ cho các công trình thủy lợi quy mô lớn.
Cà Mau có thể khái quát phương châm này thành “5 chủ động” cụ thể như: chủ động nguồn nước; chủ động thu, trữ; chủ động điều tiết; chủ động chất lượng nước; chủ động quản trị và sử dụng nước.
Một trong những giải pháp thiết thực là thu trữ nước mưa tại hộ gia đình. Từ kinh nghiệm sử dụng lu, bể, bồn chứa, các địa phương có thể nâng cấp thành hệ thống thu nước mưa an toàn, gồm mái thu nước, máng dẫn, thiết bị bỏ nước mưa đầu mùa, lọc sơ bộ và bồn chứa kín.
Nếu được triển khai rộng, hàng trăm nghìn hộ gia đình cùng trong tỉnh sẽ trữ một lượng nước nhất định sẽ hình thành dung tích trữ phân tán đáng kể, góp phần giảm áp lực cho hệ thống cấp nước tập trung.
Cùng với đó, cần phát huy hệ thống “ao nhà - hồ cộng đồng - kênh trữ nước - hồ chứa lớn”. Ao, hồ hộ gia đình có thể phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất; ao, hồ cộng đồng phục vụ cụm dân cư; hồ chứa cấp xã, liên xã tạo nguồn dự phòng; còn hệ thống kênh thủy lợi có thể kết hợp dẫn và trữ nước.
Đặc biệt, chủ động nước phải gắn với sử dụng nước tiết kiệm và bảo vệ chất lượng nguồn nước. Trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản, việc điều tiết nước theo từng tiểu vùng sinh thái, mùa vụ và nhu cầu sản xuất sẽ giúp giảm lãng phí, hạn chế phụ thuộc vào nguồn nước bên ngoài.

Kết hợp công trình hạ tầng thủy lợi lớn với các giải pháp trữ nước phân tán tại chỗ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo ông Ông Trần Chí Trung, Viện trưởng Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, , từ kinh nghiệm Cà Mau, bài học được khái quát là “Giữ nước khi có nước - bảo vệ nước tại nguồn - điều tiết nước theo vùng - sử dụng nước tiết kiệm - và quản lý nước bằng sự tham gia của cộng đồng”.
Nếu được triển khai đồng bộ từ hộ gia đình - cộng đồng - tiểu vùng - tỉnh - liên vùng, phương châm chủ động nước tại chỗ có thể tạo thành một “mạng lưới hồ chứa phân tán” trên toàn ĐBSCL. Khi đó, mỗi mái nhà, ao hồ, dòng kênh và cộng đồng đều trở thành một phần của hệ thống bảo đảm an ninh nguồn nước.
Đây không chỉ là giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn mà cần trở thành một phương thức phát triển mới, gắn quản trị tài nguyên nước với sinh kế, nông nghiệp thuận thiên, thủy sản, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, góp phần xây dựng ĐBSCL chủ động và thích ứng tốt hơn trước biến động nguồn nước.

Phát triển mô hình sinh kế gắn kết với trữ nước, bảo vệ hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Có thể nói việc “chủ động nước tại chỗ” phải đi cùng liên kết vùng. Các địa phương không thể tự giải quyết riêng lẻ những vấn đề có tính liên vùng và xuyên biên giới. Bên cạnh hệ thống công trình thủy lợi, cần tăng cường quan trắc, chia sẻ dữ liệu, dự báo nguồn nước và ứng dụng khoa học công nghệ để hỗ trợ ra quyết định.