Sign In

Cơ hội tiếp cận tài chính xanh từ làm mát bền vững

14:00 15/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Làm mát bền vững từ một yêu cầu về môi trường có thể trở thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế, có khả năng nhân rộng trên thị trường.

Nhân Ngày Quốc tế bảo về tầng ô-dôn (16/9), ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã chia sẻ về cơ hội đối với doanh nghiệp khi chủ động đầu tư, đổi mới sáng tạo và áp dụng các giải pháp làm mát bền vững. Theo ông Quang, khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế.

Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Lê Minh Tuấn.

Từng bước hoàn thiện nền tảng chính sách

Việt Nam tham gia Công ước Vienna, Nghị định thư Montreal từ năm 1994. Sau hơn 30 năm, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nghĩa vụ theo cam kết và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Theo ông Nguyễn Tuấn Quang, những kết quả nổi bật của Việt Nam được thể hiện qua ba phương diện.

Thứ nhất, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn. Các quy định về quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát đã được nội luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP, đã tạo cơ sở cho việc quản lý từ nhập khẩu, sử dụng đến thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý.

Thứ hai, Việt Nam đã thực hiện đúng lộ trình kiểm soát, loại trừ các chất được kiểm soát. CFC, Halon và CTC đã được loại trừ hoàn toàn; HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp đã được loại trừ. Hiện Việt Nam tiếp tục lộ trình loại trừ HCFC, với mức tiêu thụ giai đoạn 2025-2029 không vượt 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn/năm. Sau khi phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019, từ năm 2024 Việt Nam bắt đầu quản lý HFC theo hạn ngạch nhập khẩu để thực hiện lộ trình giảm dần.

Thứ ba, quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal đã thúc đẩy chuyển đổi công nghệ trong doanh nghiệp, đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ kỹ thuật trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Việt Nam cũng đang mở rộng cách tiếp cận từ kiểm soát môi chất lạnh sang thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Các hoạt động bảo vệ tầng ô-dôn đồng thời có thể mang lại lợi ích đáng kể về khí hậu. Ảnh minh họa. 

Theo thống kê của Ban Thư ký Ô-dôn, việc thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải khoảng 260 triệu tấn CO₂ tương đương. Điều này cho thấy các hoạt động bảo vệ tầng ô-dôn đồng thời có thể mang lại lợi ích đáng kể cho khí hậu.

“Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi phức tạp hơn. Chúng ta vừa phải tiếp tục loại trừ HCFC, vừa bắt đầu thực hiện lộ trình giảm dần HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, trong khi nhu cầu làm mát phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục gia tăng”, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang nhấn mạnh.

Quá trình chuyển đổi cần được thực hiện theo cách tiếp cận tổng thể: giảm nhu cầu làm mát khi có thể; nâng cao hiệu quả của thiết bị và hệ thống; chuyển đổi sang môi chất lạnh có GWP thấp phù hợp với yêu cầu an toàn và từng ứng dụng; đồng thời tăng cường quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời và nâng cao năng lực của đội ngũ kỹ thuật.

Đó cũng là cách chúng tôi tiếp cận khái niệm “làm mát bền vững”: không chỉ làm mát bằng một môi chất khác, mà đáp ứng nhu cầu làm mát với mức tiêu thụ năng lượng và tác động tới khí hậu thấp hơn.

Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp

Một điều kiện quan trọng để làm mát bền vững được nhân rộng là phải tạo được động lực đủ rõ cho doanh nghiệp và thị trường. Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang cho biết: Về chính sách, Việt Nam đã có những bước đi quan trọng.

Sau khi tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát tại Quyết định số 496/QĐ-TTg, trong đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến làm mát bền vững. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm “làm mát bền vững” và bổ sung các chính sách khuyến khích đối với hoạt động này.

Cùng với đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã tạo cơ sở để các dự án làm mát bền vững đáp ứng tiêu chí có thể được xác nhận thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là một bước quan trọng để kết nối mục tiêu về khí hậu và môi trường với các nguồn tài chính xanh.

Đối với doanh nghiệp, động lực không chỉ đến từ chính sách ưu đãi. Đầu tư vào hệ thống làm mát hiệu quả hơn có thể giúp giảm chi phí năng lượng, chủ động trước quá trình chuyển đổi môi chất lạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội kinh doanh mới.

“Khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế. Vì vậy, điều quan trọng là từng bước biến làm mát bền vững từ một yêu cầu về môi trường thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế và có khả năng nhân rộng trên thị trường”, ông Quang khẳng định.

Hạn ngạch nhập khẩu các chất HFC, HCFC vào Việt Nam sẽ giảm dần theo lộ trình. Ảnh: Khánh Ly.

Chia sẻ thêm về tiềm năng tham gia thị trường các-bon, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang cho biết: Trong lĩnh vực làm mát, giảm phát thải có thể đến từ hai nhóm chính.

Một là giảm phát thải gián tiếp thông qua tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn sử dụng hệ thống điều hòa hiệu suất cao, tối ưu hệ thống lạnh trong kho lạnh hoặc ứng dụng công nghệ làm mát hiệu quả hơn tại trung tâm dữ liệu.

Hai là giảm phát thải trực tiếp liên quan đến môi chất lạnh, chẳng hạn chuyển đổi khỏi các môi chất có GWP cao hoặc hạn chế phát thải thông qua thu gom, tái chế và xử lý phù hợp.

Lãnh đạo Cục Biến đổi khí hậu lưu ý, một hoạt động tạo ra kết quả giảm phát thải không đồng nghĩa đương nhiên với việc có thể tạo tín chỉ các-bon. Để kết quả giảm phát thải có thể được chuyển thành tín chỉ các-bon, dự án còn phải đáp ứng phương pháp được công nhận, chứng minh tính bổ sung, xác định đường cơ sở và thực hiện đầy đủ các yêu cầu về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV).

Do đó, tài chính các-bon nên được nhìn nhận là một nguồn tài chính bổ sung tiềm năng, chứ không phải nguồn thu mặc định của mọi dự án làm mát bền vững.

Môi chất lạnh tái chế trở thành nguồn lực mới

Về định hướng quản lý môi chất lạnh tại Việt Nam, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang cho biết: Là thành viên của Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC. Hạn ngạch nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng để kiểm soát lượng HCFC và HFC mới được nhập khẩu vào Việt Nam.

Tuy nhiên, một lượng đáng kể môi chất lạnh đã tồn tại trong các thiết bị và hệ thống lạnh, điều hòa không khí đang được sử dụng. Trong quá trình lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hoặc khi thiết bị hết thời gian sử dụng, lượng môi chất này có nguy cơ bị rò rỉ hoặc phát thải trực tiếp ra môi trường nếu không được quản lý đúng cách.

Tập huấn nâng cao năng lực sửa chữa, bão dưỡng thiết bị lạnh sử dụng môi chất lạnh thế hệ mới cho kỹ thuật viên. Ảnh: Kiều Chi.

Mặt khác, khi hạn ngạch HCFC và HFC mới giảm dần, lượng môi chất có thể được thu hồi, tái sử dụng hoặc tái chế cũng trở thành một nguồn lực cần được quản lý hiệu quả. Vì vậy, quản lý vòng đời vừa giúp hạn chế phát thải, vừa có thể giảm nhu cầu sử dụng môi chất lạnh mới và thúc đẩy cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần ưu tiên nâng cao năng lực và chất lượng thực hành của kỹ thuật viên; tăng cường thu hồi môi chất lạnh; từng bước phát triển mạng lưới thu gom, vận chuyển, lưu giữ; phát triển năng lực tái sử dụng, tái chế và xử lý phù hợp; đồng thời tăng cường theo dõi, báo cáo để quản lý tốt hơn dòng môi chất lạnh.

Có thể nói, Việt Nam đang chuyển từ việc chủ yếu kiểm soát lượng môi chất lạnh mới được nhập khẩu sang từng bước quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời. Đây cũng là hướng tiếp cận đang được thúc đẩy trên thế giới, nhằm quản lý hiệu quả hơn nguồn môi chất lạnh đã đưa vào sử dụng, hạn chế phát thải và thúc đẩy sử dụng tài nguyên theo hướng tuần hoàn, bền vững.

Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn (16/9) năm 2026 có chủ đề “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn” (Global Action for a Cooler Planet). Năm 2026 cũng là dịp kỷ niệm 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, ghi dấu một thập kỷ nỗ lực toàn cầu nhằm giảm dần HFC và thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Khánh Ly - Kiều Chi (lược ghi)

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi

Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi

Trong hai ngày từ 10 - 11/10, tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), diễn ra “Đối thoại Quy Nhơn về Khí hậu và Chuyển đổi”.
[Infographic] - Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

[Infographic] - Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Giảm phát thải cần được đo lường, báo cáo, thẩm định bằng hệ thống MRV, bảo đảm kết quả giảm nhẹ minh bạch, chính xác, có thể kiểm chứng và hỗ trợ quản lý tốt.
Fiji thúc đẩy ưu tiên khí hậu tại hội nghị tiền COP31

Fiji thúc đẩy ưu tiên khí hậu tại hội nghị tiền COP31

Hội nghị tiền COP31 tại Fiji tập trung vào mục tiêu giữ ngưỡng 1,5°C, tăng tài chính khí hậu và đưa đại dương, sức khỏe vào trọng tâm đàm phán.