Đắk Lắk đang triển khai cơ chế mới về cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng đơn giản hóa thủ tục, đồng thời tăng cường hậu kiểm.
Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ký ban hành Công văn số 12100/UBND-NNMT, yêu cầu các sở, ngành, địa phương khẩn trương triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, mục tiêu được tỉnh đặt ra là bảo đảm hoạt động cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn được thực hiện thống nhất, thông suốt, không bị gián đoạn.
Theo chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk, Chủ tịch UBND các xã, phường được giao bố trí nguồn lực về kinh phí, nhân lực để thực hiện việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn. Cấp xã cũng trực tiếp tổ chức các thủ tục hành chính về cấp, cấp lại mã số; đồng thời thực hiện thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số theo quy định.
Những trường hợp được cấp mã số theo cơ chế mới, tỉnh Đắk Lắk sẽ tổ chức hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày mã số được cấp và trả lời ngay cho tổ chức, cá nhân. Cách làm này cho thấy một thay đổi đáng chú ý trong phương thức quản lý: thay vì tập trung quá nhiều vào khâu xem xét trước khi cấp, quy trình được đơn giản hóa để rút ngắn thời gian xử lý, đồng thời tăng vai trò kiểm tra sau cấp.
Đối với sản xuất nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là những vùng sản xuất phục vụ xuất khẩu, việc giảm thời gian hoàn tất thủ tục có thể giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất chủ động hơn trong việc tổ chức vùng nguyên liệu.
Tuy nhiên, phân cấp cũng đồng nghĩa trách nhiệm quản lý được đưa gần hơn tới cơ sở. Khi cấp xã trực tiếp thực hiện thủ tục, chất lượng của việc thẩm định, cập nhật thông tin và hậu kiểm sẽ trở thành yếu tố quyết định hiệu quả của cơ chế mới.
UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu các địa phương thường xuyên hướng dẫn, đôn đốc chủ sở hữu mã số thực hiện đầy đủ trách nhiệm; đồng thời tổng hợp danh sách mã số đã cấp, cấp lại, tạm dừng, thu hồi để phục vụ công tác quản lý và chuyển nước nhập khẩu phê duyệt.
Tỉnh Đắk Lắk triển khai cơ chế mới về cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng đơn giản hóa thủ tục. Ảnh: Tuấn Trần.Cùng với phân cấp thực hiện thủ tục, UBND tỉnh Đắk Lắk giao Sở Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương xây dựng quy trình nội bộ giải quyết thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời công khai, cập nhật danh sách mã số trên hệ thống xử lý nghiệp vụ. Thông tin công khai gồm mã số, tên tổ chức, cá nhân hoặc đơn vị đại diện, địa chỉ, sản phẩm, diện tích, thị trường xuất khẩu và trạng thái hoạt động của mã số.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa thực tế đối với hoạt động xuất khẩu. Một mã số chỉ thực sự có giá trị khi thông tin gắn với mã số được quản lý chính xác, minh bạch và phản ánh đúng thực tế sản xuất, đóng gói. Nếu việc cấp mã thuận lợi nhưng khâu duy trì, kiểm tra không chặt, nguy cơ vi phạm hoặc gian lận mã số có thể ảnh hưởng không chỉ đến một cơ sở mà còn đến uy tín của cả vùng sản xuất.
Do đó, UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định đối với các mã số đã cấp; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm hoặc gian lận mã số. Công an tỉnh cũng được giao phối hợp phát hiện, đấu tranh và xử lý các hành vi giả mạo, sử dụng trái phép mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc gian lận thương mại trong xuất khẩu nông sản.
Tinh thần của cơ chế mới không đơn thuần là “cấp mã nhanh hơn”, mà là giảm những khâu thủ tục không cần thiết để tạo thuận lợi cho sản xuất, đồng thời chuyển trọng tâm sang kiểm soát việc tuân thủ trong quá trình sử dụng mã số. Đây cũng là bài toán quan trọng đối với Đắk Lắk khi tỉnh định hướng phát triển các vùng sản xuất tập trung và cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.
Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nghiên cứu chính sách hỗ trợ, khuyến khích liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển vùng sản xuất tập trung, cơ sở đóng gói phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp địa phương.
Cùng với đó, UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để kết nối, chia sẻ dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Nếu được thực hiện đồng bộ, việc đơn giản hóa thủ tục có thể giúp giảm độ trễ trong cấp mã, còn hậu kiểm và số hóa dữ liệu sẽ tạo thêm một lớp kiểm soát đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói. Khi đó, cải cách thủ tục không chỉ dừng ở việc “làm nhanh hơn”, mà hướng tới mục tiêu quan trọng hơn là tạo thuận lợi cho những chủ thể tuân thủ và nâng khả năng phát hiện, xử lý những trường hợp vi phạm. Đây là hướng tiếp cận cần thiết để mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thực sự trở thành công cụ quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc, thay vì chỉ được xem như một điều kiện thủ tục để đưa nông sản ra thị trường.