Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước ngoặt trong tư duy phát triển khi xác lập môi trường ngang hàng với kinh tế và xã hội.
Tư duy môi trường qua các kỳ đại hội từ năm 1986 đến năm 2021 phản ánh rõ hành trình chuyển hóa nhận thức phát triển tại Việt Nam gắn với nhu cầu tồn tại, tăng trưởng, hội nhập. Lịch sử Nghị quyết không dừng lại ở chuỗi văn bản hành chính khô cứng mà thể hiện ưu tiên chiến lược của quốc gia theo từng giai đoạn kinh tế xã hội.
Khi đặt dự thảo Đại hội XIV vào dòng chảy dài hạn ấy, có thể nhận diện rõ độ lớn của bước chuyển tư duy đang hình thành. Hành trình ấy khởi nguồn từ giai đoạn đặt nặng mục tiêu sinh tồn, tiến dần tới giai đoạn chấp nhận đánh đổi môi trường để tăng trưởng, rồi mở ra giai đoạn nhận thức sâu hơn về giới hạn sinh thái gắn với yêu cầu phát triển dài hạn.
Giai đoạn 1986 đến 1991 gắn với Đại hội VI mang dấu ấn Đổi mới, tập trung giải quyết khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài nhiều năm. Ưu tiên cao nhất của quốc gia thời kỳ này hướng về ổn định đời sống dân cư thông qua bảo đảm lương thực, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Tư duy chủ đạo đặt đất đai, rừng, nguồn nước vào vai trò tư liệu sản xuất cần huy động tối đa nhằm thoát khỏi thiếu đói. Trong cách tiếp cận ấy, hệ sinh thái tự nhiên chưa được nhìn nhận như nền tảng cần gìn giữ lâu dài. Khái niệm môi trường xuất hiện rải rác với hàm nghĩa chính trị hoặc đối ngoại, chưa gắn với bảo vệ sinh thái. Việc mở rộng diện tích canh tác, khai thác rừng, sử dụng tài nguyên thiên nhiên diễn ra với cường độ cao, ít cơ chế kiểm soát. Hệ quả dài hạn của giai đoạn này hình thành quán tính tư duy coi khai thác thô như con đường hợp lý để đạt ổn định kinh tế.
Bước sang giai đoạn 1996 đến 2006, các kỳ Đại hội VIII, IX, X đánh dấu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp được đặt ra, tốc độ tăng trưởng công nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hoạch định chính sách. Cấu trúc kinh tế ưu tiên ngành dầu khí, than, xi măng, thép, hóa chất, lĩnh vực tiêu thụ nhiều tài nguyên, phát thải lớn. Môi trường được nhận diện như hệ quả phát sinh từ quá trình phát triển, cần xử lý sau khi dự án vận hành. Cách tiếp cận mang tính phản ứng chi phối nhiều quyết định quản lý. Để thu hút dòng vốn đầu tư, nhiều địa phương hạ thấp yêu cầu bảo vệ môi trường, chấp nhận công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng. Lợi ích ngắn hạn đạt được đổi bằng chi phí sinh thái tích lũy, tạo gánh nặng cho các giai đoạn tiếp theo.
Tư duy môi trường tại Việt Nam vận động từ trạng thái vắng bóng, sang trạng thái đánh đổi, rồi tiến tới trạng thái thức tỉnh. Ảnh: KCN Nam Cầu Kiền.Giai đoạn 2011 đến 2021 chứng kiến thay đổi đáng kể trong nhận thức trước tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, các sự cố nghiêm trọng ảnh hưởng đời sống cộng đồng. Đại hội XI cùng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 đến 2020 đưa khái niệm phát triển bền vững vào định hướng xuyên suốt. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả. Dù vậy, trong chỉ đạo điều hành, mục tiêu tăng trưởng nhanh thường chiếm ưu thế, tạo khoảng cách giữa định hướng và triển khai. Đại hội XII tiếp tục bổ sung nội dung ổn định môi trường hòa bình, đề cập yêu cầu quản lý tài nguyên, song môi trường vẫn giữ vai trò phòng vệ, thiên về khắc phục hậu quả.
Đại hội XIII năm 2021 tạo bước đệm quan trọng cho thay đổi sâu hơn. Quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế được khẳng định rõ ràng. Kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh bắt đầu được đề cập như định hướng dài hạn. Dù vậy, trong cấu trúc nhiệm vụ trọng tâm, bảo vệ môi trường vẫn thường được đặt chung với nhóm vấn đề xã hội hoặc quản lý tài nguyên, chưa trở thành trụ cột độc lập ngang hàng với phát triển kinh tế. Điều này cho thấy quá trình chuyển hóa tư duy đã khởi động mạnh mẽ, song chưa đạt độ triệt để cần thiết để xóa bỏ hoàn toàn logic phát triển ngắn hạn.
Nhìn lại toàn bộ giai đoạn từ 1986 đến 2021, tư duy môi trường tại Việt Nam vận động từ trạng thái vắng bóng, sang trạng thái đánh đổi, rồi tiến tới trạng thái thức tỉnh. Mỗi giai đoạn phản ánh yêu cầu sống còn của đất nước tại thời điểm tương ứng. Chính dòng chảy lịch sử ấy tạo nền tảng lý luận cho bước nâng tầm bảo vệ môi trường tại dự thảo Đại hội XIV.
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV thể hiện bước phát triển vượt bậc trong tư duy quản trị quốc gia khi xác lập bảo vệ môi trường cùng với phát triển kinh tế, xã hội giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm. Cách tiếp cận này tạo nên cấu trúc điều hành cân bằng, phá vỡ mô hình ưu tiên kinh tế đơn tuyến từng tồn tại suốt nhiều thập kỷ. Khi môi trường được đặt ngang hàng với kinh tế và xã hội, toàn bộ logic hoạch định chính sách buộc phải tái cấu trúc theo hướng dài hạn, ổn định, hướng tới lợi ích quốc gia bền vững. Đây là thay đổi mang tính nền tảng, tác động trực tiếp tới phân bổ nguồn lực, tổ chức bộ máy, tiêu chí đánh giá thành quả phát triển.
Khái niệm nhiệm vụ trung tâm trong hệ thống chính trị Việt Nam luôn gắn với ưu tiên cao nhất về ngân sách, đầu tư công, tổ chức cán bộ, hoàn thiện pháp luật. Khi môi trường được đưa vào vị trí này, dòng vốn nhà nước sẽ dịch chuyển rõ rệt sang hạ tầng xanh, năng lượng tái tạo, bảo tồn hệ sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu. Quyết định đầu tư không thể dựa thuần túy vào tốc độ hoàn vốn ngắn hạn mà phải tính tới khả năng duy trì tài nguyên, giảm rủi ro dài hạn. Cùng lúc, tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo gắn chặt với hiệu quả quản trị môi trường, kiểm soát ô nhiễm, sử dụng đất đai, tài nguyên hợp lý. Hệ thống pháp luật buộc phải rà soát đồng bộ nhằm bảo đảm luật kinh tế, luật đầu tư, luật thuế, luật đất đai vận hành hài hòa với mục tiêu bảo vệ môi trường.
Sự thay đổi tại Đại hội XIV thể hiện chuyển dịch từ tư duy phòng thủ sang tư duy kiến tạo. Môi trường không còn bị nhìn nhận như gánh nặng chi phí hay lĩnh vực xử lý hậu quả. Môi trường được coi là nguồn vốn tự nhiên có khả năng tạo ra giá trị kinh tế lâu dài. Công cụ kinh tế như thuế sinh thái, phí phát thải, tín chỉ carbon, định giá chi phí môi trường trở thành phương tiện điều tiết thị trường. Khi chi phí ô nhiễm được tính đúng vào giá thành sản phẩm, lợi thế giá rẻ dựa trên xả thải mất đi. Doanh nghiệp buộc phải đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu suất, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn để tồn tại. Động lực đổi mới sáng tạo vì thế hình thành từ áp lực môi trường thay vì mệnh lệnh hành chính đơn thuần.
Một điểm nổi bật trong tư duy mới là gắn kết chặt chẽ giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, giám sát số, trách nhiệm giải trình rõ ràng giúp khắc phục hạn chế kéo dài trong quản lý truyền thống. Công nghệ số cho phép theo dõi phát thải, sử dụng tài nguyên theo thời gian thực, lưu vết quyết định quy hoạch, cấp phép. Khi dấu vết số tồn tại lâu dài, trách nhiệm pháp lý vượt ra ngoài chu kỳ công tác, buộc người ra quyết định cân nhắc hệ quả dài hạn. Điều này tác động trực tiếp tới tư duy nhiệm kỳ vốn nuôi dưỡng phát triển ngắn hạn tại nhiều địa phương.
Bảo vệ môi trường giữ vai trò nền tảng cho an ninh sinh thái, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Ảnh: Chinhphu.vn.Việc xác lập môi trường là nhiệm vụ trung tâm phá vỡ bẫy nhiệm kỳ thông qua thay đổi cấu trúc khuyến khích. Hiệu quả quản trị địa phương không còn đo lường thuần túy bằng tăng trưởng GRDP hay thu ngân sách trước mắt. Chỉ số chất lượng môi trường, quản lý tài nguyên, mức độ hài lòng của người dân trở thành tiêu chí đánh giá song hành. Khi hậu quả môi trường được ghi nhận, giám sát liên tục, khả năng đẩy rủi ro sang nhiệm kỳ sau bị thu hẹp đáng kể. Dòng vốn đầu tư vì thế dịch chuyển từ dự án khai thác ngắn hạn sang lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng tái tạo, dịch vụ sinh thái mang lại lợi ích bền vững.
Đặt môi trường tại trung tâm còn tạo nền tảng ổn định quy hoạch. Giới hạn sinh thái đóng vai trò lằn ranh định hướng cho quy hoạch điện, quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng. Khi ranh giới môi trường được tôn trọng nghiêm ngặt, chính sách trở nên nhất quán, giảm điều chỉnh tùy tiện. Nhà đầu tư có cơ sở yên tâm bỏ vốn cho dự án dài hạn kéo dài 20-30 năm, thay vì tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn. Môi trường đầu tư minh bạch hình thành từ kỷ luật sinh thái chứ không từ ưu đãi nhất thời.
Ở tầm quốc gia, bảo vệ môi trường giữ vai trò nền tảng cho an ninh sinh thái, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp tới đồng bằng, miền núi, ven biển, đe dọa không gian sinh tồn. Đầu tư cho thích ứng khí hậu, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên nước không tạo GDP tức thì, song bảo đảm quốc gia còn dư địa phát triển trong nhiều thập kỷ. Đồng thời, giảm ô nhiễm không khí, nguồn nước góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng, giảm gánh nặng y tế, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Trên bình diện quốc tế, tư duy mới giúp Việt Nam chủ động trước hàng rào xanh, tiêu chuẩn carbon, quy định chống phá rừng từ các thị trường lớn. Khi nền kinh tế vận hành theo logic xanh, hàng hóa xuất khẩu nâng cao giá trị, duy trì thị phần, củng cố thương hiệu quốc gia. Cam kết mạnh mẽ về môi trường tạo điều kiện thu hút tài chính khí hậu, công nghệ sạch, hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng, giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu. Điều này góp phần tăng cường tự chủ chiến lược trong bối cảnh địa chính trị biến động.
Dù tư duy tại Đại hội XIV mang tính đột phá, triển khai sẽ đối mặt nhiều thách thức. Xung đột lợi ích, áp lực tăng trưởng ngắn hạn, hạn chế năng lực bộ máy đòi hỏi quyết tâm chính trị cao cùng giải pháp đồng bộ. Thể chế hóa bằng luật, xây dựng chỉ số GDP xanh, minh bạch dữ liệu môi trường, phát huy giám sát xã hội giữ vai trò then chốt. Khi những điều kiện ấy được đáp ứng, định hướng môi trường là nhiệm vụ trung tâm có khả năng chuyển hóa thành động lực phát triển dài hạn, đưa quốc gia bước vào quỹ đạo hài hòa với thiên nhiên, ổn định, an toàn cho các thế hệ tương lai.
Cách tiếp cận mới của Đại hội XIV mang ý nghĩa kiến tạo, vượt ra ngoài điều chỉnh kỹ thuật, phản ánh tầm nhìn coi giới hạn sinh thái là khung tham chiếu cho mọi quyết định phát triển. Khi môi trường được nội hóa vào trung tâm tư duy chính sách, quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam có cơ sở chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ ngắn hạn sang dài hạn, từ đánh đổi sang hài hòa. Đây chính là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng, bền vững trong kỷ nguyên mới. |