Mục tiêu cuối cùng không phải biến người nông dân thành người làm công nghệ, mà giúp họ biết dùng công nghệ để quảng bá tốt hơn và bán sản phẩm thuận lợi hơn.
Chiếc điện thoại thông minh đã trở thành vật dụng quen thuộc với ông Nguyễn Văn Báu, nông dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La. Hằng ngày, ông dùng điện thoại để gọi điện, nhắn tin, vào Zalo, Facebook liên lạc với người thân, trao đổi công việc, xem thời tiết, giá nông sản và học hỏi thêm cách làm ăn.
Nhưng khi được hỏi về việc tự quay video, đăng Facebook, TikTok hay livestream để bán sản phẩm của gia đình, ông Báu thừa nhận vẫn còn lúng túng.
“Cầm điện thoại thì biết, nhưng quay thế nào cho đẹp, nói thế nào cho dễ hiểu, đăng bài ra sao thì tôi chưa biết”, ông Báu chia sẻ.
Ông Nguyễn Văn Báu, nông dân xã Bình Thuận, tỉnh Sơn La chia sẻ: "Bà con chúng tôi học cái gì cũng phải được làm thử, thấy làm được và có hiệu quả thì mới muốn làm tiếp". Ảnh: Duy Học.Đó cũng là khoảng cách mà nhiều nông dân đang gặp phải khi tiếp cận chuyển đổi số. Điện thoại thông minh và mạng xã hội đã hiện diện trong đời sống hằng ngày, nhưng để biến những công cụ này thành phương tiện quảng bá, kết nối khách hàng và bán nông sản lại cần thêm nhiều kỹ năng.
Với ông Báu, khó nhất không phải là có một chiếc điện thoại thông minh mà là biết sử dụng nó như thế nào để người khác biết đến và tin tưởng sản phẩm của mình.
“Sản phẩm tốt chưa đủ, nếu không biết cách giới thiệu để khách hàng hiểu và tin tưởng thì cũng khó bán”, ông Báu nói.
Livestream bán hàng còn khó hơn. Người nông dân không chỉ phải biết nói trước màn hình mà còn phải đọc bình luận, trả lời khách hàng, chốt đơn, ghi địa chỉ. Khi có khách mua, những công việc tiếp theo như thanh toán, đóng gói và gửi hàng cũng đều cần kỹ năng.
Với người ít tiếp xúc với những phương thức bán hàng mới, mỗi thao tác đều có thể trở thành một trở ngại. “Nhiều khi tôi sợ thao tác nhầm, làm sai mà không biết cách sửa nên cũng ngại sử dụng”, ông Báu chia sẻ.
Tuy nhiên, theo ông, điều đó không có nghĩa nông dân vùng cao không muốn tiếp cận công nghệ. Điều bà con cần là cách hướng dẫn phù hợp.
“Chúng tôi không ngại học. Nếu được hướng dẫn từng bước, có người đồng hành và thấy công nghệ giúp bán được nông sản, bà con sẽ mạnh dạn hơn, làm quen dần rồi tự mình làm tiếp”, ông Báu nói.
Theo ông, cách học phù hợp nhất với nông dân là được trực tiếp làm thử. Thay vì nghe nhiều kiến thức cùng lúc, người hướng dẫn có thể cùng bà con cầm điện thoại chụp chính sản phẩm của gia đình, quay một đoạn video, hướng dẫn cách nói, viết vài câu giới thiệu rồi đăng lên Facebook hoặc Zalo.
Ông cho rằng chỉ cần được hướng dẫn cách làm ban đầu, bà con hoàn toàn có thể tự học thêm. “Nếu được hướng dẫn từng bước, làm ngay trên sản phẩm của mình, học đến đâu làm được đến đó, thì tôi nghĩ bà con sẽ làm được. Làm vài lần quen tay, thấy có người hỏi mua hàng thì mình sẽ tự tin làm tiếp”, ông Báu bày tỏ.
Từ thực tế hỗ trợ người dân, bà Lò Thanh Bình, Tổ Khuyến nông cộng đồng - Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh Sơn La cũng cho rằng, muốn thu hẹp khoảng cách số cho người dân vùng cao, trước hết phải đào tạo những kỹ năng bà con có thể sử dụng ngay.
Không nên dạy quá nhiều lý thuyết, nội dung cần tập trung vào những việc bà con có thể sử dụng ngay trong cuộc sống và sản xuất.
Muốn thu hẹp khoảng cách số cho người dân vùng cao, trước hết phải đào tạo những kỹ năng thật sự thiết thực. Ảnh: Duy Học.Theo bà Bình, người dân có thể bắt đầu từ những kỹ năng cơ bản như: Chụp ảnh sản phẩm, quay video ngắn, viết bài giới thiệu, đăng sản phẩm lên Zalo, Facebook. Khi đã quen, bà con có thể học livestream, tương tác với khách hàng và chốt đơn.
Quá trình này cũng cần bổ sung các kỹ năng liên quan đến thanh toán điện tử, đóng gói, vận chuyển, bảo vệ tài khoản và nhận biết những hình thức lừa đảo trên môi trường mạng.
“Cách đào tạo phải ‘cầm tay chỉ việc’. Mỗi buổi học nên lấy chính sản phẩm của bà con để thực hành: Có sản phẩm thật, quay video thật, đăng bài thật và thử tương tác với khách hàng. Như vậy bà con sẽ dễ hiểu và nhớ lâu hơn”, bà Bình chia sẻ.
Việc hỗ trợ cũng không nên kết thúc khi lớp tập huấn khép lại. Bởi như ông Báu nói, có những thao tác ở lớp tưởng đã hiểu nhưng khi về nhà làm lại có thể quên, hoặc phát sinh tình huống mới không biết xử lý.
Theo bà Bình, có thể duy trì các nhóm trao đổi sau tập huấn để người dân hỏi khi gặp khó khăn, chia sẻ những cách làm hiệu quả và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình bán hàng trực tuyến.
Một yếu tố khác quyết định việc người dân có tiếp tục sử dụng công nghệ hay không là hiệu quả thực tế.
Ông Báu lấy ví dụ, nếu trước đây nông sản chủ yếu bán trong bản hoặc quanh xã, sau khi đăng lên mạng có thêm người ở nơi khác biết đến, liên hệ hỏi mua thì bà con sẽ thấy ngay lợi ích của chiếc điện thoại đối với việc làm ăn.
Bà Bình cũng cho rằng, kỹ năng số phải được gắn với đầu ra sản phẩm. Nếu người dân học xong nhưng không có sản phẩm để quảng bá hoặc không kết nối được với thị trường thì rất khó duy trì việc ứng dụng.
Ngược lại, khi một bức ảnh, một đoạn video hay buổi livestream giúp sản phẩm được nhiều người biết đến, có khách hàng hỏi mua và mang lại thu nhập thực tế, người dân sẽ có động lực để tiếp tục học hỏi.
Với người dân vùng cao, chuyển đổi số vì thế có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Đó là biết chụp một bức ảnh sản phẩm, quay một đoạn video, viết vài dòng giới thiệu hay tự trả lời một khách hàng trên mạng. Nhưng để những thao tác nhỏ ấy trở thành kỹ năng, người dân cần được “cầm tay chỉ việc”, được làm thử, làm thật và có người hỗ trợ khi gặp khó khăn. Khi bà con tự tay làm được và nhìn thấy nông sản của mình tìm được khách hàng mới, công nghệ mới thực sự trở thành công cụ phục vụ sinh kế.