Nhà nước khuyến khích tối đa việc tái chế và tái sử dụng các loại môi chất lạnh (gas lạnh) để tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến tầng ozone.
Ngày 3/4, tại Hà Nội, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tổ chức Cuộc họp tham vấn “Kiểm kê quốc gia các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal trong lĩnh vực làm lạnh và điều hòa không khí". Kết quả kiểm kê là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng, xác định các nhóm chất, thiết bị có chứa chất được kiểm soát cần ưu tiên quản lý.
Siết hạn ngạch nhập khẩu
Việt Nam đang tích cực triển khai lộ trình quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone (HCFC), chất gây hiệu ứng nhà kính (HFC) theo Công ước Vienna, Nghị định thư Montreal. Trong đó, một số loại môi chất làm lạnh rất phổ biến như HCFC-22, HFC-227ea, HFC-404A, HFC-507A, HFC-410A, HFC-32, HFC-134a... hiện được sử dụng rộng rãi trong điều hòa không khí dân dụng và các hệ thống điều hòa trung tâm của các tòa nhà; máy sản xuất nước lạnh (chiller); hệ thống kho lạnh lưu trữ, bảo quản thực phẩm, dược phẩm; điều hòa trên ô tô, tàu hỏa.

Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu Lê Ngọc Tuấn chia sẻ về các cơ sở pháp lý trong quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát. Ảnh: Minh Tuấn.
Thực hiện Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát, từ năm 2025, Việt Nam đã áp dụng hạn ngạch nhập khẩu HCFC 1.300 tấn/năm và sẽ duy trì đến hết năm 2029, tương ứng mức giảm 67,5%. Giai đoạn từ 2030-2039, hạn ngạch nhập khẩu trung bình chỉ còn 100 tấn/năm và tiến tới loại trừ hoàn toàn HCFC từ năm 2040.
Với chất HFC, hạn ngạch nhập khẩu giai đoạn 2024-2028 ngưng ở mức cơ sở là 13,9 triệu tấn CO2tđ, sau đó giảm dần và đến 2045, lượng nhập khẩu không vượt 2,8 triệu tấn CO2tđ (tương ứng mức cắt giảm khoảng 80%).
Việc kiểm soát theo lộ trình này đồng nghĩa với nguồn môi chất lạnh nhập khẩu mới sẽ bị hạn chế, trong khi nhu cầu phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tăng theo từng năm. Trong bối cảnh đó, thu hồi, tái chế và tái sử dụng nguồn môi chất đang tồn trữ trong các thiết bị hiện có trở thành giải pháp quan trọng để bù đắp thiếu hụt.
Theo Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu Lê Ngọc Tuấn, việc xây dựng và triển khai các giải pháp thu gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý các chất được kiểm soát có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm nguồn cung phục vụ nhu cầu vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị cũng như bảo vệ môi trường.
Hành lang pháp lý cho hoạt động này đã được thiết lập tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/3/2026. Cùng với Kế hoạch quốc gia, đây là cơ sở để Việt Nam thực hiện quản lý theo vòng đời - từ sản xuất thiết bị và nạp khí lần đầu tới tiêu hủy hoặc tái chế - thay vì thải bỏ ra môi trường.
Nguồn tài nguyên cần phải tiết kiệm
Thời gian qua, Cục Biến đổi khí hậu phối hợp với Ngân hàng Thế giới triển khai kiểm kê lượng tồn trữ các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal. Theo bà Đặng Hồng Hạnh, Trưởng nhóm Tư vấn dự án, Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC), kiểm kê tập trung vào ba chỉ số chính: Lượng môi chất đang tồn trữ trong các thiết bị hiện hữu, dự báo nhu cầu cho các thiết bị lắp mới và nhu cầu cho hoạt động bảo trì, bảo dưỡng trong tương lai.

Bà Đặng Hồng Hạnh, Trưởng nhóm Tư vấn dự án nhận định lượng lượng môi chất lạnh nhập khẩu nhiều khả năng không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường trong những năm tới. Ảnh: Minh Tuấn.
Kết quả cho thấy, tổng lượng môi chất tồn trữ năm 2024 là 49,2 nghìn tấn và dự báo đạt đỉnh vào năm 2033 ở mức khoảng 68,7 nghìn tấn. Xu hướng sử dụng các loại môi chất lạnh sẽ chuyển dịch sang các chất thân thiện với môi trường hơn.
Đến năm 2050, dự báo tổng lượng tồn trữ giảm còn 17,8 nghìn tấn khi quá trình chuyển đổi sang môi chất lạnh thân thiện hơn được thúc đẩy.
Nhóm nghiên cứu chỉ ra, với đà phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng thực tế hiện nay, lượng môi chất được phép nhập khẩu theo hạn ngạch những năm tới sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường. Ví dụ, nếu một gia đình đang sử dụng điều hòa bị hết gas lạnh, hoặc một hãng sản xuất ô tô cần nạp gas cho hệ thống điều hòa nhưng thị trường không còn nguồn cung mới do hết hạn ngạch, thì hoạt động sản xuất và đời sống sẽ bị đình trệ.
Do đó, nguồn môi chất đang tồn trữ trong các thiết bị hiện hữu chính là nguồn tài nguyên cần được khai thác hiện quả, đảm bảo chu trình vận hành cho các ngành sản xuất và dịch vụ.

Ông Viraj Vithoontien, chuyên gia từ Ngân hàng thế giới phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Minh Tuấn.
Theo ông Viraj Vithoontien, chuyên gia từ Ngân hàng thế giới, nghiên cứu không nên chỉ dừng lại ở cân đối cung - cầu, mà cần đánh giá sâu về khả năng đáp ứng của các chất thay thế và tính phù hợp với đặc thù thực tế tại Việt Nam. Quá trình chuyển đổi sang môi chất lạnh mới cần phù hợp thực tế và có lộ trình để loại bỏ những yếu tố kém hiệu quả và giảm thiểu sự lãng phí trong vận hành hệ thống. Ông cũng bày tỏ góc nhìn lạc quan về đổi mới sáng tạo, khi các nhà sản xuất tìm ra giải pháp tối ưu hóa công nghệ để giảm chi phí sản xuất trong tương lai.
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Việt Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, công tác quản lý cần bao trùm toàn bộ vòng đời của thiết bị và môi chất. Mục tiêu bảo vệ tầng ozone, giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng không thể tách rời khỏi khả năng chi trả của người dân. Nếu chuyển đổi quá nhanh có thể gây ra những cú sốc cho thị trường, dẫn đến thu hẹp quy mô sản xuất và sụt giảm doanh thu trong lĩnh vực làm mát. Điều này vô hình trung sẽ cản trở việc huy động các nguồn lực xã hội cần thiết cho quá trình chuyển đổi xanh. Ông Dũng đề xuất các chính sách quản lý của Nhà nước, các công cụ hỗ trợ thực thi và khả năng thích ứng linh hoạt của điều kiện thị trường thực tế.

Đại diện các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội tham gia cuộc họp tham vấn. Ảnh: Minh Tuấn.
Lộ trình thu gom, xử lý hướng tới tái sử dụng
Theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu, các quy định về quản lý, thu gom và xử lý các chất được kiểm soát sẽ được triển khai lộ trình phù hợp với từng quy mô và loại hình thiết bị.
Từ năm 2024, quy định này bắt đầu áp dụng đối với các tổ chức sở hữu các thiết bị có quy mô lớn. Từ năm 2028, phạm vi đối tượng thực hiện mở rộng sang cả các nhà sản xuất và nhập khẩu thiết bị, sản phẩm. Các đơn vị này có trách nhiệm trực tiếp trong việc thu gom, tái chế và xử lý các chất được kiểm soát ngay từ khâu sản xuất, lưu thông sản phẩm.
Về nguyên tắc, khi các thiết bị, sản phẩm không còn sử dụng, việc thu gom các chất được kiểm soát là yêu cầu bắt buộc, không được tự ý xả thải ra môi trường. Nhà nước khuyến khích tối đa việc tái chế và tái sử dụng các chất được kiểm soát sau khi đã thu gom để tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến tầng ozone. Trong trường hợp không thể tái chế hoặc tái sử dụng, các tổ chức buộc phải thực hiện tiêu hủy theo đúng quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Trên cơ sở ý kiến của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội và các bên liên quan, Cục Biến đổi khí hậu sẽ hoàn thiện dự thảo Kế hoạch quản lý theo vòng đời các chất được kiểm soát, nhằm xây dựng kế hoạch có tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu triển khai.