Theo các chuyên gia, ngành cá tra đối mặt với thách thức lớn về con giống, dịch bệnh, đòi hỏi nâng cấp toàn chuỗi trước bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt.
Cá tra được xác định là sản phẩm quốc gia, với quy mô sản xuất lớn, thị trường xuất khẩu rộng và giá trị kinh tế cao, đóng góp kim ngạch ổn định 2-2,2 tỷ USD mỗi năm.

ThS Trần Hữu Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước ngọt miền Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Theo ThS Trần Hữu Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước ngọt miền Nam (Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam), con giống giữ vai trò then chốt, quyết định tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng kháng bệnh, chống chịu môi trường và tỷ lệ sống.
Hiện ngành cá tra có diện tích nuôi khoảng 5.500-5.700 ha, sản lượng thương phẩm đạt 1,6-1,8 triệu tấn/năm; diện tích ương giống khoảng 2.000 ha, cung ứng 4-4,5 tỷ con giống/năm. Tuy nhiên, giai đoạn 2024-2025, nguồn giống có lúc khan hiếm cục bộ, giá tăng mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi nuôi thương phẩm.
Theo ông Phúc, biến đổi khí hậu, mưa nắng thất thường và dịch bệnh diễn biến phức tạp khiến tỷ lệ sống của cá giống giảm, có thời điểm chỉ đạt 5-15%. Một số vùng ghi nhận cá chết nhiều trước 30 ngày tuổi. Nguyên nhân còn đến từ chất lượng cá bố mẹ, kỹ thuật nuôi vỗ, thức ăn tự nhiên chưa chuẩn hóa và liên kết giữa các khâu sản xuất giống còn lỏng lẻo.
Để nâng cao chất lượng giống cá tra, theo ông Phúc, cần kết hợp giữa di truyền, công nghệ ươm và dinh dưỡng. Trong đó, tập trung nâng cao hiệu quả chọn giống bằng cách kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ hệ gen để tăng độ chính xác và duy trì tiến bộ di truyền; tái cấu trúc quản lý trại giống theo hướng kiểm soát chặt môi trường, vi sinh và an toàn sinh học. Đồng thời, hoàn thiện, áp dụng rộng rãi chiến lược dinh dưỡng xuyên suốt từ cá bố mẹ đến cá giống.
"Triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo nền tảng cho ngành cá tra phát triển bền vững", ông Phúc nhấn mạnh.

GS.TS Dương Thúy Yên, trường Thủy sản, ĐH Cần Thơ. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Theo GS.TS Dương Thúy Yên, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, vùng nuôi ĐBSCL đã chịu tác động nặng nề của xâm nhập mặn, đặc biệt trong các năm 2016 và 2020.
Theo GS Yên, giai đoạn 2017-2022, chương trình hợp tác quốc tế giữa Đại học Cần Thơ và các đối tác Bỉ đã chọn tạo thành công dòng cá tra có khả năng chịu mặn đến 10‰. Đàn cá nền được xây dựng từ 900 gia đình, nuôi và chọn lọc liên tục trong môi trường nước lợ, qua nhiều giai đoạn khắt khe về tăng trưởng và thích nghi.
Kết quả cho thấy sau 3 năm, cá vẫn sinh trưởng và sinh sản tốt trong điều kiện độ mặn 5‰, với các chỉ tiêu sinh sản tương đương cá nuôi nước ngọt. Đáng chú ý, thế hệ cá con G2 không chỉ thích nghi tốt hơn mà còn cho thấy xu hướng tăng trưởng và tỷ lệ sống vượt trội khi nuôi trong nước lợ.
"Việc tạo ra dòng cá tra chịu mặn không chỉ phục vụ vùng nước lợ mà còn có tiềm năng ứng dụng rộng hơn. Thực tế cho thấy dòng cá này, vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tốt ngay cả trong môi trường nước ngọt, mở ra khả năng đa dạng hóa vùng nuôi", GS Yên nhấn mạnh.

Theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và kiểm ngư Lê Duy Lam, sau sáp nhập, tỉnh Đồng Tháp mới có vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Ở cấp địa phương, Đồng Tháp - một trong những “thủ phủ” cá tra đang đẩy mạnh tái cấu trúc ngành theo hướng công nghệ cao. Theo ông Lê Duy Lam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Đồng Tháp, dù có nhiều lợi thế tự nhiên, việc ứng dụng khoa học công nghệ vẫn chưa tạo được đột phá.
Địa phương xác định sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong toàn chuỗi, từ con giống đến nuôi thương phẩm; khai thác nguồn giống cải thiện di truyền; nâng cao tỷ lệ chủ động giống chất lượng cao.
Song song đó, Đồng Tháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, xử lý bùn thải thành năng lượng và phân bón, đồng thời nghiên cứu thay thế HCG trong sinh sản cá tra nhằm giảm chi phí.
Ông Lam cũng cho biết, tỉnh định hướng phát triển cá tra thích ứng mặn để mở rộng không gian nuôi, kết hợp chuyển đổi số với các giải pháp như AI giám sát cho ăn, robot xử lý môi trường, hệ thống quan trắc nước tự động và IoT quản lý vùng nuôi. Việc số hóa nhật ký nuôi bằng giọng nói cũng được kỳ vọng hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ dễ dàng hơn.
Theo TS Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, hiện nay có khoảng 160.000 con giống chọn lọc đã được chuyển giao đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, công tác chọn giống cần được đầu tư dài hạn 10-15 năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hệ gen. Ở khâu nuôi, tỷ lệ sống giai đoạn đầu còn thấp, việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế, dữ liệu ngành vẫn phân tán. Vì vậy, cần thúc đẩy liên kết “ba nhà” cùng cơ chế phù hợp để đưa khoa học công nghệ vào thực tiễn hiệu quả hơn.

Theo TS Lê Hồng Phước, việc quản lý, quan trắc và cảnh báo chất lượng nước vùng nuôi có vai trò quan trọng trong chỉ đạo sản xuất. Ảnh: Nguyễn Thủy.