Đến năm 2030, trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ lập bản đồ số, tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ qua hợp đồng, hướng tới hình thành các vùng nguyên liệu ổn định, gắn chặt với chế biến và thị trường.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định 3411/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030”.
Đề án hướng tới phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung ổn định, bền vững, đáp ứng yêu cầu của chế biến, xuất khẩu và thị trường; có kết cấu hạ tầng giao thông kết nối và hạ tầng dùng chung thiết yếu phục vụ sản xuất đồng bộ; tổ chức sản xuất thông qua hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác; quản trị bằng dữ liệu số và liên kết ổn định với doanh nghiệp. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công, giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông sản Việt Nam.
Giải quyết ba điểm nghẽn
Đề án được xây dựng nhằm khắc phục 3 điểm nghẽn chủ yếu của vùng nguyên liệu. Thứ nhất, hạ tầng giao thông và hạ tầng dùng chung phục vụ vùng nguyên liệu còn thiếu, chưa đồng bộ. Thứ hai, năng lực tổ chức sản xuất, quản trị HTX và quản trị số vùng nguyên liệu còn hạn chế. Thứ ba, liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và người sản xuất chưa bền vững, chưa huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư tư nhân.
Để giải quyết những điểm nghẽn này, Đề án xác định ba trụ cột. Trụ cột thứ nhất là đầu tư, nâng cấp hệ thống giao thông kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở thu gom, sơ chế, chế biến, logistics và thị trường; đầu tư một số hạ tầng dùng chung thiết yếu phục vụ tổ chức sản xuất theo quy hoạch.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030”. Ảnh: Thanh Tâm.Mục tiêu là giảm chi phí và thời gian vận chuyển, giảm tổn thất sau thu hoạch; nâng cao năng lực thu gom, bảo quản, tiêu thụ và hiệu quả đầu tư công tại vùng nguyên liệu.
Trụ cột thứ hai là củng cố năng lực HTX, tổ hợp tác và các lực lượng hỗ trợ kỹ thuật; chuẩn hóa quy trình tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng. Đồng thời, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu số, bản đồ số vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, vùng nuôi, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc, kết nối với cơ sở dữ liệu ngành.
Theo định hướng này, HTX trở thành hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu; từng bước hình thành hệ thống quản trị số thống nhất, minh bạch, nâng cao năng lực quản lý diện tích, mùa vụ, sản lượng, chất lượng và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước, xuất khẩu.
Trụ cột thứ ba là phát triển liên kết giữa doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác và người sản xuất theo hợp đồng; hỗ trợ kết nối cung cầu, xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn thị trường; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics và các dịch vụ phục vụ chuỗi giá trị.
Qua đó, tăng tỷ lệ sản lượng tiêu thụ theo hợp đồng, nâng cao tính ổn định và khả năng cạnh tranh của vùng nguyên liệu, huy động nguồn lực ngoài ngân sách và hình thành chuỗi giá trị bền vững, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể.
Giảm ít nhất 10% chi phí vận chuyển
Đến năm 2030, Đề án đặt mục tiêu hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung đối với các ngành hàng chủ lực trên phạm vi cả nước, phù hợp với quy hoạch, nhu cầu thị trường và khả năng huy động nguồn lực. Các ngành hàng được ưu tiên gồm lúa gạo, cây ăn quả, cây công nghiệp, gỗ rừng trồng, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
Đối với hạ tầng, Đề án ưu tiên đầu tư, nâng cấp các công trình thiết yếu, có tính kết nối và tác động lan tỏa. Việc lựa chọn công trình phải xác định rõ điểm nghẽn, hiệu quả đầu tư, đối tượng hưởng lợi và phương án quản lý, vận hành, bảo trì sau đầu tư.
Mục tiêu đặt ra là giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, giảm 10-15% thời gian thu gom và 8-10% hao hụt sau thu hoạch. Cùng với hạ tầng, trên 80% HTX, tổ hợp tác tham gia vùng nguyên liệu được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực về quản trị, kế hoạch sản xuất, cung ứng dịch vụ, quản lý chất lượng, thực hiện hợp đồng và quản trị dữ liệu.
Trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ lập bản đồ số
Chuyển đổi số là một trong những mục tiêu đáng chú ý của Đề án. Đến năm 2030, trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ hoàn thành lập bản đồ số và chuẩn hóa dữ liệu cơ bản. Trong đó, tối thiểu 60% diện tích được hỗ trợ áp dụng nhật ký sản xuất điện tử, quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc phù hợp với yêu cầu ngành hàng và thị trường.
Khoảng 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ có HTX, tổ hợp tác tham gia tổ chức sản xuất và có ít nhất một doanh nghiệp, cơ sở chế biến, thu gom, phân phối hoặc tổ chức tiêu thụ sản phẩm ký hợp đồng liên kết hoặc thỏa thuận hợp tác còn hiệu lực.
Đặc biệt, tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ thông qua hợp đồng. Đề án cũng phấn đấu tăng tối thiểu 10% doanh thu của HTX, tổ hợp tác và 10% thu nhập của thành viên, người sản xuất tham gia vùng nguyên liệu so với thời điểm trước khi thực hiện Đề án.
Đề án được thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2030. Năm 2028 tổ chức đánh giá giữa kỳ; năm 2030 tổng kết, đánh giá kết quả và đề xuất giai đoạn tiếp theo. Một nguyên tắc xuyên suốt là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các vùng nguyên liệu có thị trường, có HTX tổ chức sản xuất, có doanh nghiệp tham gia liên kết và có khả năng duy trì hiệu quả sau đầu tư. Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các công trình, nhiệm vụ có tính chất công cộng, thiết yếu, tạo động lực thu hút đầu tư xã hội; không đầu tư thay cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, HTX và người dân.