Sign In

Khánh Hòa đột phá công nghệ, hướng đến trung tâm nuôi biển hiện đại

10:18 22/05/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Sở hữu bờ biển dài 490 km với nhiều vịnh kín gió, Khánh Hòa đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào nuôi biển nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững.

Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bức tranh toàn cảnh về kinh tế biển tại Khánh Hòa đã ghi nhận những chuyển biến sâu sắc, toàn diện; trong đó, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản có sự thay đổi mạnh mẽ nhờ dịch chuyển sang hướng công nghệ cao, bền vững.

Đổi mới từ tư duy đến các mô hình nuôi biển tiên tiến

Giữa vùng biển Vân Phong, những vòng lồng HDPE khổng lồ nổi lên như các “nhà máy trên biển”. Hệ thống cho ăn tự động vận hành theo dữ liệu môi trường, camera theo dõi đàn cá hoạt động liên tục, còn người nuôi điều khiển nhiều khâu ngay trên điện thoại. Khác xa hình ảnh bè gỗ ken dày trong các vịnh kín trước đây, mô hình nuôi biển công nghiệp ở Khánh Hòa đang cho thấy một cách làm mới: đưa nghề nuôi biển ra xa bờ, giảm phụ thuộc kinh nghiệm thủ công và tiến tới sản xuất quy mô lớn theo chuỗi.

Ít ai nghĩ rằng nơi thí điểm cho nuôi biển công nghệ cao của Việt Nam trước đây từng phủ kín lồng bè gỗ, phao xốp và nghề nuôi tự phát từ những năm 90 của thế kỷ 20. Nghề nuôi biển khi ấy phát triển nhanh, sản lượng tăng. Cụ thể năm 2020 đạt gần 10.000 tấn thì đến năm 2025 đã vượt mốc 20.000 tấn, tăng gấp đôi sau 5 năm và tạo sinh kế nâng cao thu nhập cho hàng ngàn hộ dân ven biển. Tuy nhiên, phương thức nuôi cũ đã bộc lộ nhiều hạn chế. Phần lớn ngư dân nuôi quy mô nhỏ lẻ, dùng lồng bè gỗ không chịu được sóng gió lớn, tập trung ở vùng ven bờ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước cục bộ.

Ông Vũ Khắc Mười, hộ nuôi cá biển tại Đầm Bấy (Nha Trang) chia sẻ, gia đình đông từng vận hành 60 ô lồng gỗ truyền thống tại đảo Trí Nguyên nhưng lâu dài, lồng gỗ dễ bị hư hỏng, mục nát, tạo ra rác thải gỗ và phao xốp trôi nổi gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, thức ăn thừa và chất thải của cá tích tụ dưới đáy làm giảm chất lượng nước, phát sinh dịch bệnh. 

Tỉnh Khánh Hòa đang đẩy mạnh phát triển nuôi biển công nghệ cao. Ảnh: B.La.

Từ áp lực ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, quá tải mặt nước ven bờ, Khánh Hòa buộc phải lựa chọn con đường chuyển đổi. Không chỉ tỉnh mà cả doanh nghiệp, viện nghiên cứu và người dân đều tham gia vào quá trình thay đổi này: thay lồng gỗ bằng HDPE, chuyển dần từ nuôi ven bờ sang xa biển, từ hộ nhỏ lẻ sang mô hình liên kết sản xuất hiện đại.

Sự chuyển động ấy không đơn thuần là thay đổi vật liệu hay công nghệ nuôi, mà phản ánh tham vọng lớn hơn: biến nuôi biển từ một nghề mưu sinh truyền thống thành ngành công nghiệp biển quy mô lớn, gắn với chiến lược kinh tế đại dương của Việt Nam.

Nhắc lại về cuộc chuyển đổi này, ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa cho biết, sự chuyển dịch công nghệ này tại địa phương không phải mới bắt đầu mà đã có sự dẫn dắt, chuẩn bị từ sớm của các doanh nghiệp và viện nghiên cứu qua nhiều giai đoạn.

Từ năm 2000, Công ty TNHH Ngọc Trai đã thử nghiệm lồng tròn HDPE tại xã Đại Lãnh. Đến năm 2006, Công ty Marine Farms ASA Việt Nam và Công ty Thủy sản Australis Việt Nam tiếp tục đầu tư hệ thống lồng HDPE quy mô công nghiệp tại vịnh Vân Phong. Nhằm tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng, năm 2013, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã triển khai thành công mô hình trình diễn nuôi công nghiệp.

Tiếp tục cụ thể hóa định hướng này, ngày 9/10/2024, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Kế hoạch số 11346/KH-UBND nhằm mở rộng thí điểm nuôi biển công nghệ cao. Đặc biệt, Đề án thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa cũng đã được Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt tại Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 24/1/2025.

Qua triển khai thí điểm các mô hình nuôi biển công nghệ cao tại các vùng nuôi cho thấy sự ưu việt của lồng vật liệu HDPE kích thước lớn so với bè gỗ, đặc biệt là khả năng vươn khơi bứt phá đối với nuôi cá biển.

Khánh Hòa đã hình thành các vùng nuôi công nghệ cao quy mô lớn, như vùng nuôi cá chẽm xa bờ trên diện tích 384 ha, sản lượng đạt 250–300 tấn/lồng của Công ty Australis Việt Nam; 42 lồng nuôi cá chim vây vàng, cho sản lượng 150–200 tấn/năm của Trung tâm nuôi biển công nghệ cao thuộc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam.

Không chỉ ở quy mô doanh nghiệp, mô hình của 5 hộ dân nuôi 10 lồng cá chim vây vàng (thể tích 800 m3/lồng) tại khu vực Đầm Bấy (Nha Trang) là minh chứng rõ nét cho hiệu quả đối với kinh tế hộ. Kết quả đợt đầu đạt tổng sản lượng 36,5 tấn; tỷ lệ sống của cá đạt trên 85%, sinh trưởng nhanh và hệ số tiêu tốn thức ăn thấp hơn hẳn lồng bè truyền thống. Sau khi trừ chi phí và khấu hao, mô hình mang lại lợi nhuận ròng khoảng 1,7 tỷ đồng, bình quân mỗi lồng giúp ngư dân đút túi hơn 485 triệu đồng một chu kỳ.
Song song đó, công tác huy động nguồn lực xã hội hóa cũng gặt hái kết quả tích cực. Giai đoạn 2023-2024, Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup) đã hỗ trợ 10 hộ dân tại vịnh Cam Ranh ứng dụng công nghệ cao. Năm 2025, chương trình dự kiến hỗ trợ thêm 70 hộ; đến nay đã có 50 hộ đăng ký và 30 hộ hoàn thành lắp đặt lồng HDPE để đưa vào sản xuất.

Những mô hình thí điểm nuôi biển công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đều mang lại hiệu quả vượt trội. Ảnh: Kim Sơ.

Nhận diện rào cản và kiến nghị tháo gỡ

Ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa nhận định: Dù đạt kết quả khả quan, nuôi biển Khánh Hòa vẫn đối mặt với nhiều thách thức.

Nổi cộm là chưa chủ động sản xuất nhân tạo được con giống cho một số loài như tôm hùm, cá mú cọp, phải phụ thuộc nguồn tự nhiên hoặc nhập khẩu, làm tăng chi phí đầu vào. Biến đổi khí hậu khiến thiên tai khắc nghiệt hơn; tần suất bão đổ bộ vào tỉnh tăng về cường độ, thời tiết nắng nóng kéo dài gây bất lợi cho thủy sản. Khi dịch chuyển ra vùng biển mở từ 3 đến 6 hải lý, chi phí logistics tăng cao do quãng đường vận chuyển vật tư dài, sóng gió lớn làm giảm hiệu quả kinh tế. Hơn nữa, nuôi biển công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài, nhưng sự tham gia của doanh nghiệp quy mô lớn còn khiêm tốn. Hạ tầng phục vụ riêng cho nuôi biển tập trung gần như chưa có; hệ thống phao tiêu, biển báo vùng nuôi chưa được đầu tư.

Chia sẻ về thực trạng nuôi trồng thủy sản tại địa phương, ông Nguyễn Xuân Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi biển công nghệ cao Vạn Ninh cho biết, thay vì trước đây chủ yếu tập trung nuôi tôm hùm với đầu ra bấp bênh, thời gian gần đây, bà con ngư dân đã chủ động đa dạng hóa đối tượng nuôi bằng việc chuyển sang các loại cá biển như cá chim, cá mú. Sự chuyển dịch này không chỉ giúp ổn định sinh kế, giải quyết việc làm mà còn mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là thị trường xuất khẩu thiếu ổn định, gây trở ngại cho việc dự báo triển vọng dài hạn. Để hướng tới xuất khẩu bền vững, ông cho rằng, cơ quan chức năng cần sớm quy hoạch vùng nuôi, mặt nước đạt chuẩn và xây dựng hồ sơ truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Ngoài ra, dù xu hướng chuyển đổi từ lồng gỗ sang lồng HDPE là tất yếu, nhưng chi phí đầu tư quá cao đang là rào cản lớn khiến bà con chưa thể nhân rộng đồng loạt.

Để từng bước tháo gỡ khó khăn, tiến tới xây dựng ngành nuôi biển Khánh Hòa hiện đại, an toàn và bền vững, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Duy Quang cho biết tỉnh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đồng bộ.

Về mặt hạ tầng, UBND tỉnh đã có Tờ trình số 2081/TTr-UBND gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Trung ương hỗ trợ, bố trí 500 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Nguồn lực này sẽ được tập trung để xây dựng hạ tầng vùng nuôi tập trung, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống mốc ranh giới và khu neo đậu lồng bè.

Song song với hoàn thiện hạ tầng, công tác thực thi các chính sách hỗ trợ cũng được tỉnh đặc biệt quan tâm. Bên cạnh Nghị quyết số 17/2025/NQ-HĐND do HĐND tỉnh ban hành nhằm hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm tai nạn cho lao động nuôi biển, địa phương đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ kinh phí mới. Chính sách này kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, tiếp thêm nguồn lực tài chính giúp người dân vững tâm chuyển đổi từ hệ thống lồng bè truyền thống sang lồng vật liệu mới chịu lực.

Nuôi xa bờ, cá nuôi ít dịch bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt. Ảnh: Kim Sơ.

Biến mặt biển thành không gian sản xuất công nghiệp

Theo báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tỉnh ủy Khánh Hòa đã đề xuất, kiến nghị một số giải pháp trọng tâm liên quan lĩnh vực nuôi biển.

Cụ thể, nghiên cứu, ban hành các chính sách đặc thù thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển phù hợp với tiềm năng, lợi thế riêng của các tỉnh ven biển; ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hạ tầng nghề cá, hậu cần nghề cá và đẩy mạnh phát triển công nghệ nuôi sâu.; rà soát quy hoạch, bố trí lại các khu dân cư ven biển nhằm bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn liền với việc tạo sinh kế bền vững cho người dân; chú trọng công tác bảo vệ môi trường ven biển xanh - sạch - đẹp - văn minh; đẩy mạnh tuyên truyền để việc bảo vệ, giữ gìn môi trường ven biển trở thành sự tự giác và nét văn hóa của cư dân…

Tham quan mô hình nuôi biển công nghệ cao tại vịnh Cam Ranh. Ảnh: KS.

Điều này cho thấy Khánh Hòa đang được định vị như trung tâm nuôi biển công nghiệp của Việt Nam. Ít địa phương nào có đồng thời vịnh nước sâu, vùng biển kín gió, hệ thống nghiên cứu thủy sản mạnh, nghề nuôi biển truyền thống lâu năm và sự tham gia sớm của doanh nghiệp công nghệ cao. Từ Vân Phong đến Cam Ranh, các mô hình lồng HDPE, nuôi biển hở, quản trị môi trường và tự động hóa đang dần thay thế kiểu nuôi lồng gỗ ven bờ trước đây. Đây cũng là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết 36-NQ/TW: chuyển khai thác ven bờ sang kinh tế biển công nghệ cao, quy mô lớn và bền vững hơn.

Xa hơn, Khánh Hòa thực chất đang thử một mô hình phát triển mới cho Việt Nam: biến mặt biển thành không gian sản xuất công nghiệp thay vì chỉ là nơi khai thác tự nhiên. Nếu thành công, mô hình này có thể mở đường cho các địa phương ven biển khác trong quá trình chuyển từ nghề cá nhỏ lẻ sang kinh tế đại dương hiện đại. Nhưng để đi tới đó, bài toán vốn, bảo hiểm nuôi biển, quy hoạch không gian biển và liên kết chế biến - logistics vẫn là những nút thắt lớn chưa thể giải quyết trong ngày một ngày hai.

Kim Sơ

Đánh giá bài viết:
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Dữ liệu số thay thế hồ sơ giấy trong giao biển

Dữ liệu số thay thế hồ sơ giấy trong giao biển

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố kết nối dữ liệu biển nhằm tạo thuận lợi cho giải quyết thủ tục hành chính.

AI và dữ liệu lớn sẽ thay đổi cách quản trị biển

Dữ liệu biển đang trở thành nền tảng quản trị hiện đại, tạo động lực phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

19 thủ tục hành chính về biển, hải đảo được sửa đổi, bổ sung

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố 7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và 12 thủ tục bị bãi bỏ trong lĩnh vực biển và hải đảo.