Kiểm kê khí nhà kính đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp nhằm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và giải quyết các rào cản thương mại quốc tế.
Ngày 29/9, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) khai mạc khóa tập huấn “Đào tạo, tập huấn về chính sách, công cụ giảm phát thải khí nhà kính” tại Hà Nội.
Khóa tập huấn dành cho đại diện các sở, ban, ngành và doanh nghiệp phát thải lớn phía Bắc nhằm phổ biến quy định pháp lý mới nhất; hướng dẫn đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính đảm bảo chất lượng và minh bạch.
Kiểm kê khí nhà kính phải tuân thủ hướng dẫn của Liên hợp quốc
Việt Nam đã kiểm kê khí nhà kính quốc gia cho các mốc năm 1994, 2000, 2010, và từ năm 2014 trở đi duy trì định kỳ 2 năm một lần. Đến nay, Việt Nam đã xây dựng nền tảng kiểm kê cơ bản bao trùm các lĩnh vực chính gồm: năng lượng; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU); chất thải; các quá trình công nghiệp (IPPU).
Chia sẻ về nghĩa vụ quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Việt Nam đã chính thức thực hiện trách nhiệm giảm phát thải từ năm 2020. Để có cơ sở dữ liệu chính xác theo dõi tiến trình giảm phát thải cấp lĩnh vực, quốc gia, Việt Nam bắt buộc phải tổ chức kiểm kê khí nhà kính chi tiết từ cấp cơ sở và vận hành Khung minh bạch tăng cường (ETF), đảm bảo hoàn thành Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR) gửi lên Ban thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Ông Lương Quang Huy, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thông tin về công tác kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hiền. Các cơ sở thực hiện kiểm kê lần đầu năm 2022, sau đó là 2024 và gần đây nhất năm 2026, danh mục cập nhật mới gồm 2.441 cơ sở có nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính. Doanh nghiệp có thể có nhiều cơ sở thuộc diện phải kiểm kê.
Thông qua hội thảo tâp huấn, Cục Biến đổi khí hậu sẽ tiếp nhận ý kiến phản hồi, đặc biệt từ khối doanh nghiệp để hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan và xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phù hợp. Mục tiêu nhằm bảo đảm số liệu kiểm kê của Việt Nam không chỉ được quốc tế ghi nhận, mà còn tạo nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.
“Việc thực hiện khung minh bạch của Thỏa thuận Paris tại Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết nhằm đáp ứng Luật Bảo vệ môi trường 2020, tạo nền tảng cho việc vận hành thị trường các-bon trong nước, giải quyết các rào cản thương mại như cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM), đẩy mạnh hội nhập kinh tế”, ông Huy nhấn mạnh.
Ông Jaypalsinh Chauhan, chuyên gia quốc tế về kiểm kê khí nhà kính và MRV, Điều phối viên Mạng lưới minh bạch khí hậu châu Á (Dự án CBIT) cho biết: Theo các phương thức, thủ tục và hướng dẫn thực thi Thỏa thuận Paris, việc áp dụng Hướng dẫn IPCC năm 2006 trong kiểm kê khí nhà kính không còn dừng lại ở mức khuyến khích hay tham khảo tùy ý, mà đã chính thức trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với Việt Nam.
Ông Jaypalsinh Chauhan, chuyên gia quốc tế chia sẻ về phương pháp kiểm kê khí nhà kính theo Hướng dẫn IPCC. Ảnh: Khánh Ly. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ quá trình thu thập số liệu, lựa chọn phương pháp luận và lập báo cáo kiểm kê quốc gia đều phải tuân thủ nghiêm ngặt theo khung tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất của bộ hướng dẫn này. Chuyên gia nhấn mạnh, cơ sở sẽ phải cung cấp chuỗi dữ liệu hàng năm, dữ liệu truy xuất được nguồn gốc và tài liệu phải được lưu trữ để sẵn sàng phục vụ thẩm tra sau đó.
Chuyển đổi thu thập dữ liệu từ dưới lên
Từ góc độ quản lý chất lượng kiểm kê khí nhà kính, ông Akihiro Tamai, Chuyên gia Trung tâm Hợp tác Môi trường Quốc tế Nhật Bản (OECC) cảnh báo về những rủi ro thường trực trong quá trình cơ sở xây dựng báo cáo kiểm kê.
Yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính quốc gia xuất phát từ 3 áp lực chính: khối lượng bảng biểu báo cáo ngày càng đồ sộ, phức tạp; chu kỳ hoàn thành và nộp báo cáo định kỳ hai năm một lần rất gấp rút; các cơ chế rà soát, đánh giá độc lập của các đoàn chuyên gia quốc tế đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc.
“Để báo cáo đạt chuẩn, công tác kiểm soát chất lượng không thể chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra số liệu cuối cùng mà phải được tính toán, lồng ghép ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Mục tiêu nhằm tránh tính trùng hoặc bỏ sót số liệu phát thải khí nhà kính”, ông Akihiro Tamai nhấn mạnh.
Thông qua hội thảo tâp huấn, Cục Biến đổi khí hậu sẽ tiếp nhận ý kiến phản hồi, đặc biệt từ khối doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách. Ảnh: Nguyễn Hiền. Làm rõ thực trạng dữ liệu trong nước, bà Nguyễn Hồng Loan, chuyên gia ETF về theo dõi tiến độ giảm phát thải khí nhà kính đã chia sẻ kết quả rà soát 42 nguồn phát thải - nhóm chiếm 95,1% tổng phát thải của Việt Nam. Hầu hết hiện vẫn áp dụng phương pháp tính cơ bản, số liệu hoạt động chủ yếu gom từ trên xuống và còn thiếu các hệ số phát thải đặc thù lĩnh vực. Trong khi đó, hướng dẫn của Liên hợp quốc đưa ra cách tiếp cận từ dưới lên.
Để đáp ứng các yêu cầu quốc tế, trong giai đoạn 2025-2028, bà Loan khuyến nghị, Việt Nam cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật kiểm kê quốc gia, vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung và đẩy nhanh số hóa quy trình báo cáo.