Những diễn biến căng thẳng tại Trung Đông, khu vực trung chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu, đang kéo theo hệ lụy lan rộng đến thương mại quốc tế. Tuy không phải thị trường xuất khẩu lớn của nông sản Việt, nhưng cú sốc về năng lượng, vận tải và chuỗi cung ứng đang tạo sức ép trực tiếp lên chi phí sản xuất và năng lực cạnh tranh.
Trong kịch bản được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, trọng tâm điều hành không chỉ dừng ở giữ nhịp tăng trưởng năm 2026, mà còn hướng tới nâng cao khả năng chống chịu của toàn ngành trước các biến động toàn cầu.
Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Đông đạt trên 1,74 tỷ USD, trong đó các mặt hàng chủ lực như, hạt điều 600 triệu USD, thủy sản 325 triệu USD, cà phê 300 triệu USD…, chiếm 2 - 2,2% tổng kim ngạch toàn ngành.
"Tác động trực tiếp đến tăng trưởng ngành thông qua thị trường Trung Đông là hạn chế về mặt quy mô", Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận xét và cho biết thêm, rằng ảnh hưởng còn gián tiếp thông qua tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu sang các thị trường châu Âu, Bắc và Trung Phi.
Người dân xã Thác Bà, Lào Cai thu hái lứa chè xuân. Ảnh: Quang Tuấn.Hiện Bộ Tài chính xây dựng kịch bản đánh giá ảnh hưởng của xung đột cho toàn nền kinh tế, theo 3 phương án: xung đột kéo dài khoảng 1 tháng, 3 tháng và 1 năm. Trong lúc chờ lượng hóa cụ thể tác động của xung đột tới tăng trưởng GDP, rủi ro về dầu khí và logistics toàn cầu đã hiện hữu. Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định, trước mắt cần tập trung ổn định chi phí sản xuất, bảo vệ lợi nhuận người sản xuất, duy trì ổn định chuỗi xuất khẩu và tăng khả năng tự chủ dài hạn.
Một trong những giải pháp được đưa ra là ổn định nguồn cung vật tư đầu vào, từ phân bón đến nhiên liệu. Khi giá vận tải biển đã tăng tới 25-35% và thời gian giao hàng kéo dài thêm nhiều ngày, bất kỳ biến động nào về chi phí đầu vào cũng có thể làm giảm biên lợi nhuận của nông dân và doanh nghiệp.
Các công cụ tài chính sẽ được xem xét kích hoạt nhằm “giữ nhịp” dòng tiền. Chính sách giãn nợ, mở rộng tín dụng và hỗ trợ bảo hiểm xuất khẩu được xem là “van giảm áp” trong giai đoạn đơn hàng chậm, thanh toán kéo dài.
Về thị trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trương đẩy mạnh chuyển hướng xuất khẩu sang các khu vực ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ xung đột. Trong bối cảnh nhu cầu thực phẩm tại Trung Đông vẫn tồn tại nhưng rủi ro vận tải gia tăng, việc mở rộng sang Đông Á, châu Âu hay châu Phi giúp phân tán rủi ro và duy trì đơn hàng.
Cùng với đó, là việc thiết lập cơ chế cảnh báo sớm về rủi ro logistics và thanh toán. Khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, rau quả phải đối mặt với tình trạng hàng nằm chờ tại cảng hoặc kéo dài hành trình, thông tin kịp thời trở thành yếu tố quyết định để điều chỉnh kế hoạch sản xuất.
Nếu các giải pháp ngắn hạn nhằm “giữ ổn định”, thì về dài hạn, định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là tái cấu trúc ngành theo hướng tự chủ và giá trị cao hơn.
Trụ cột quan trọng được Bộ xác định, là chuyển đổi mô hình sản xuất, từ mở rộng sản lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Điều này bao gồm phát triển vùng nguyên liệu lớn, tăng tỷ lệ chế biến sâu và xây dựng thương hiệu nông sản. Đây là những yếu tố giúp giảm phụ thuộc vào biến động giá cả và logistics.
Ngoài ra, là thúc đẩy đa dạng hóa thị trường. Thay vì phụ thuộc vào một số tuyến vận tải hoặc khu vực địa lý, ngành nông nghiệp được định hướng mở rộng sang các thị trường tiềm năng, trong đó có thị trường Halal, vốn có liên hệ chặt chẽ với khu vực Trung Đông nhưng yêu cầu tiêu chuẩn cao hơn.
Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp giới thiệu nông sản Việt tại thị trường Nhật Bản vào trung tuần tháng 3/2026. Ảnh: Agritrade.Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ cũng được đặt ở vị trí trung tâm. Từ hệ thống truy xuất nguồn gốc, giám sát vùng trồng đến dự báo thị trường, các công cụ dữ liệu được kỳ vọng giúp giảm chi phí trung gian và nâng cao khả năng phản ứng với biến động.
Ở góc độ thể chế, việc cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện chính sách tín dụng, thuế và bảo hiểm nông nghiệp sẽ tạo nền tảng cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Đặc biệt, phát triển hệ thống logistics nội địa, từ kho lạnh đến hạ tầng vận chuyển, được xem là “điểm tựa” để giảm phụ thuộc vào các tuyến vận tải quốc tế dễ tổn thương.
Khi xung đột Trung Đông lắng xuống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí phân loại thị trường, xác định chỉ tiêu xuất khẩu theo tiểu ngành, lĩnh vực và thị trường, đặc biệt thị trường còn nhiều tiềm năng bao gồm Trung Đông. Đồng thời, xây dựng báo cáo thị trường xuất khẩu nông sản, giải pháp ứng phó đối với những thay đổi liên quan đến thuế, xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật… tại các thị trường Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc.
Toàn ngành cùng chung tay đẩy mạnh thương hiệu “Nông sản Việt” đối với các nông sản chủ lực của Việt Nam trên thị trường thế giới. Một nghị định riêng về thương hiệu nông sản sẽ được xây dựng, bên cạnh đẩy mạnh tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm có tính thời vụ cao (như rau, hoa, quả), vốn dễ bị tác động của điều kiện tự nhiên, thời tiết.
Theo kế hoạch tăng trưởng năm 2026, toàn ngành phấn đấu đạt mức tăng trưởng 3,7%, phấn đấu tăng 4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD. Để giảm “độ trễ” chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp kịp thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương ban hành các chính sách đủ mạnh về tín dụng, bảo hiểm và tài chính, ưu tiên doanh nghiệp và hợp tác xã liên kết theo chuỗi, giúp ổn định đầu ra và giảm rủi ro cho nông dân. Đồng thời, điều hành chính sách tín dụng theo hướng nới lỏng: giảm lãi suất vay ngắn hạn, mở rộng hạn mức và triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho lâm sản, thủy sản; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và vốn xây dựng kho lạnh, dự trữ hàng hóa. Bộ cũng đề xuất giảm thuế nhập khẩu đối với phân bón và nguyên liệu sản xuất và đề nghị Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý tranh chấp và hạn chế rủi ro thanh toán, đặc biệt với các hợp đồng bị đình trệ. |