Sign In

Quản lý rác thải từ nguồn, tính phí theo lượng phát sinh

08:31 25/09/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Tỉnh Đắk Lắk siết chặt quản lý rác thải, từ phân loại bắt buộc tại nguồn đến tính chi phí dịch vụ theo lượng rác phát sinh.

Ngày 22/9, ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk ký ban hành Quyết định số 104/2026/QĐ-UBND, quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn xây dựng và bùn thải trên địa bàn tỉnh. Theo đó, tỉnh Đắk Lắk đặt toàn bộ quá trình quản lý chất thải vào một chuỗi trách nhiệm, từ nơi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng; phân loại chất thải tại nguồn được xác định là trách nhiệm bắt buộc của mọi chủ nguồn thải.

‘Siết’ từ túi rác

Theo quy định mới, chất thải rắn sinh hoạt phải được phân loại tại nguồn thành các nhóm phù hợp với mục đích quản lý, xử lý. Trong đó có chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm và các loại chất thải sinh hoạt khác.

Các loại chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình như pin, ắc quy, bóng đèn, hóa chất, bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật… phải được nhận diện, phân loại theo quy định. Chất thải cồng kềnh như bàn, ghế, sofa, giường, nệm, tủ, cành cây, gốc cây cũng không được tùy tiện tập kết trên vỉa hè, lòng đường hay khu vực công cộng.

Với quy định mới của UBND tỉnh Đắk Lắk, ‘đường đi’ của một túi rác được xác định rõ hơn. Ảnh: Trần Thọ.

Với quy định mới của UBND tỉnh Đắk Lắk, ‘đường đi’ của một túi rác được xác định rõ hơn. Ảnh: Trần Thọ.

Sau khi phân loại, chất thải phải được lưu giữ trong bao bì, thiết bị phù hợp và chuyển giao cho đơn vị thu gom. Quy định của UBND tỉnh Đắk Lắk đồng thời ưu tiên giảm thiểu phát sinh, tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý và thu hồi năng lượng, hạn chế tối đa việc chôn lấp trực tiếp.

Việc phân loại rác không dừng ở hướng khuyến khích mà trở thành trách nhiệm bắt buộc của chủ nguồn thải. Rác được phân loại ngay từ đầu, các công đoạn phía sau mới có cơ sở để tái sử dụng, tái chế hoặc xử lý theo từng nhóm.

Ngược lại, nếu tất cả rác thải được dồn vào một túi rác rồi mới phân loại, xử lý, nhiều loại chất thải có khả năng tái chế sẽ bị trộn lẫn, còn chất thải nguy hại có thể đi chung với rác sinh hoạt. Phân loại rác tại nguồn vì thế là khâu đầu tiên để giảm áp lực cho hệ thống thu gom và xử lý.

Trách nhiệm thu gom, phân loại chất thải không chỉ thuộc hộ gia đình, cá nhân. Chính quyền cấp xã được giao quản lý hoạt động thu gom, kiểm tra việc phân loại, lưu giữ, chuyển giao chất thải và xử lý những trường hợp vi phạm. Đơn vị thu gom cũng phải thực hiện đúng yêu cầu về kỹ thuật, hợp đồng dịch vụ và không để các nhóm chất thải đã phân loại bị trộn lẫn trở lại.

Cách tiếp cận này khiến “đường đi” của một túi rác được xác định rõ từ nơi phát sinh, cách phân loại đến khâu thu gom, vận chuyển và xử lý.

Rác nhiều, trả nhiều

Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, chi phí dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt được tính theo khối lượng chất thải phát sinh. Điều này tạo mối liên hệ trực tiếp giữa lượng rác thải ra với chi phí phải trả cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý.

Tỉnh Đắk Lắk đặt toàn bộ quá trình quản lý chất thải vào một chuỗi trách nhiệm từ nơi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng. Ảnh: Trần Thọ.

Tỉnh Đắk Lắk đặt toàn bộ quá trình quản lý chất thải vào một chuỗi trách nhiệm từ nơi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng. Ảnh: Trần Thọ.

Việc xác định lượng chất thải có thể thực hiện thông qua bán bao bì đựng chất thải theo quy định, xác định theo thể tích thiết bị chứa, cân khối lượng hoặc phương thức hợp pháp khác. Với các đối tượng phát sinh lượng chất thải lớn, giá dịch vụ thực hiện theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí.

Như vậy, lượng rác phát sinh không còn chỉ là vấn đề của đơn vị thu gom hay cơ sở xử lý. Khối lượng chất thải càng lớn thì chi phí quản lý tương ứng cũng được tính đến. Đây là cách cụ thể hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” được đặt ra ngay tại phần nguyên tắc chung của quy định.

Cùng với chất thải sinh hoạt, tỉnh Đắk Lắk cũng đưa chất thải công nghiệp thông thường, chất thải xây dựng và bùn thải vào một khuôn khổ quản lý xuyên suốt. Theo đó, chất thải công nghiệp thông thường phải được phân loại theo khả năng tái sử dụng, tái chế, sử dụng làm vật liệu xây dựng, san lấp hoặc thuộc nhóm phải xử lý. Chủ nguồn thải chỉ được chuyển giao chất thải cho đơn vị đáp ứng điều kiện theo quy định.

Trong xây dựng, đất, bùn từ hoạt động đào đất, nạo vét có thể được sử dụng cho những mục đích phù hợp; đất đá, gạch, ngói, bê tông và các vật liệu có khả năng tái chế được tái sử dụng, tái chế hoặc làm vật liệu san lấp. Hộ gia đình ở đô thị khi cải tạo, phá dỡ công trình phải tách chất thải xây dựng khỏi rác sinh hoạt.

Với bùn thải, yêu cầu quản lý được đặt từ khâu phân loại theo nguồn gốc, mức độ ô nhiễm và tính chất nguy hại. Bùn chưa xử lý không được xả trực tiếp ra môi trường. Đặc biệt, bùn từ bể tự hoại phải được định kỳ hút, vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng, không được xả trực tiếp vào hệ thống thoát nước hay nguồn nước.

Quy định mới thiết lập một chuỗi quản lý từ phân loại tại nguồn đến thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý, thay vì chỉ “dọn rác” khi chất thải đã phát sinh. Khi lượng rác trở thành căn cứ xác định chi phí dịch vụ, trách nhiệm của chủ nguồn thải cũng được đặt rõ hơn ngay từ điểm bắt đầu của dòng chất thải.


 

Trần Thọ - Phương Chi

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Đồng Tháp quan trắc môi trường tại 53 điểm nuôi thủy sản

Đồng Tháp quan trắc môi trường tại 53 điểm nuôi thủy sản

UBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Kế hoạch số 1548/KH-UBND ngày 12/10/2026 về quan trắc, cảnh báo môi trường trong nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026-2030. Kế hoạch nhằm chủ động theo dõi chất lượng môi trường, phát hiện sớm các yếu tố bất lợi, phục vụ quản lý sản xuất và hạn chế thiệt hại cho người nuôi.
Khủng hoảng khói mù Đông Nam Á: Bài học năm 2015 vẫn còn nguyên giá trị

Khủng hoảng khói mù Đông Nam Á: Bài học năm 2015 vẫn còn nguyên giá trị

Khủng hoảng khói mù tái diễn năm 2026 đặt ra bài học cho Đông Nam Á về phòng ngừa cháy rừng và tăng cường hợp tác khu vực.

Hiệp ước Biển cả tạo cơ chế lập khu bảo tồn biển quốc tế

Hiệp ước Biển cả tạo cơ sở bảo vệ đa dạng sinh học và chia sẻ lợi ích công bằng, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào việc thực thi trên biển.