Sign In

Phát huy vai trò của toàn xã hội trong bảo đảm an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản

11:25 18/05/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Dự thảo Chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2030 cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý an toàn thực phẩm: từ kiểm soát hành chính đơn thuần sang mô hình phối hợp “Nhà nước - tổ chức xã hội - người dân”, gắn an toàn thực phẩm với sức khỏe cộng đồng, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường trong nước và quốc tế, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy quản lý và phương thức tổ chức thực hiện.

Dự thảo Chương trình phối hợp “Tuyên truyền, vận động, giám sát sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn góp phần tăng cường bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và phát triển bền vững giai đoạn 2026-2030” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng cho thấy rõ định hướng đó. 

Đây không chỉ là chương trình phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội, mà còn phản ánh một chuyển dịch quan trọng trong tư duy quản trị an toàn thực phẩm: từ “kiểm tra – xử lý vi phạm” sang “xây dựng hệ sinh thái sản xuất và tiêu dùng an toàn dựa trên sự tham gia của toàn xã hội”.

Phát huy vai trò của toàn xã hội trong bảo đảm an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản. Ảnh: Đào Cảnh

Từ kết quả của giai đoạn 2021–2025

Theo dự thảo Tờ trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chương trình phối hợp giai đoạn 2021-2025 giữa Chính phủ với Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động sản xuất và tiêu dùng thực phẩm an toàn. 

Hoạt động tuyên truyền được triển khai thường xuyên, liên tục từ Trung ương đến địa phương với nhiều hình thức phong phú, thiết thực; chú trọng phát huy vai trò của hệ thống hội ở cơ sở. Công tác vận động các cơ sở sản xuất ban đầu, sơ chế, kinh doanh nhỏ lẻ ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn có nhiều chuyển biến tích cực; nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, sản xuất công nghệ cao và sản phẩm OCOP được xây dựng, nhân rộng. 

Đặc biệt, dự thảo Tờ trình nhấn mạnh một kết quả mang tính xã hội rất đáng chú ý: “cơ bản không còn tình trạng rau hai luống, lợn hai chuồng”.

Điều này cho thấy tác động của công tác tuyên truyền, vận động và giám sát cộng đồng không chỉ dừng ở việc nâng cao nhận thức, mà đã bắt đầu tạo chuyển biến trong hành vi sản xuất và tiêu dùng thực phẩm.

Chương trình cũng góp phần khẳng định vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ trong kết nối chính sách với người dân; đồng thời bổ sung một “cánh tay nối dài” cho hệ thống quản lý nhà nước tại cơ sở. 

Nhưng an toàn thực phẩm vẫn là thách thức lớn

Tuy nhiên, dự thảo Tờ trình cũng thẳng thắn nhìn nhận thực tế công tác an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. 

Tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra tại nhiều địa phương; thực phẩm kém chất lượng, giả mạo nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn xuất hiện trên thị trường; tình trạng sử dụng hóa chất cấm, vi phạm quy định về vật tư nông nghiệp và dư lượng hóa chất vẫn tồn tại ở một số nơi. 

Một nguyên nhân quan trọng được chỉ ra là sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán, khó kiểm soát đồng bộ về chất lượng và an toàn thực phẩm. 

Trong khi đó, yêu cầu của thị trường và người tiêu dùng ngày càng cao. Không chỉ quan tâm tới chất lượng sản phẩm, người tiêu dùng hiện nay còn đòi hỏi truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và trách nhiệm môi trường trong sản xuất nông nghiệp. 

Đối với xuất khẩu, các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Trung Quốc ngày càng siết chặt các quy định về dư lượng hóa chất, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Điều này khiến an toàn thực phẩm không còn chỉ là vấn đề quản lý ngành, mà đã trở thành yếu tố liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Chuyển từ “quản lý ATTP” sang “quản trị hệ thống thực phẩm”

Một điểm đáng chú ý của dự thảo Chương trình là cách tiếp cận mới trong quản lý an toàn thực phẩm. Nếu trước đây công tác ATTP chủ yếu tập trung vào kiểm tra, xử lý vi phạm và quản lý hành chính, thì dự thảo lần này cho thấy xu hướng chuyển sang quản trị toàn bộ hệ thống thực phẩm theo hướng minh bạch, trách nhiệm và bền vững hơn. Điều này được thể hiện khá rõ trong hệ thống căn cứ chính trị và pháp lý của Chương trình.

Bên cạnh các văn bản về an toàn thực phẩm, dự thảo đồng thời dẫn chiếu Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Kết luận số 81-KL/TW về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; Quyết định số 300/QĐ-TTg về chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững đến năm 2030. 

Điều này cho thấy an toàn thực phẩm hiện đã được đặt trong mối liên hệ rộng hơn với sức khỏe cộng đồng, chuyển đổi số, phát triển bền vững, an ninh lương thực và tăng trưởng xanh.

Nói cách khác, tư duy quản lý đang chuyển từ “kiểm soát sản phẩm” sang “quản trị hệ thống thực phẩm”.

Vai trò mới của các tổ chức xã hội trong quản trị an toàn thực phẩm

Một điểm nổi bật khác của dự thảo là nhấn mạnh vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giám sát và thay đổi hành vi cộng đồng.

Theo đánh giá trong dự thảo Tờ trình, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có mạng lưới rộng khắp cả nước với hàng chục triệu hội viên; trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến và tiêu dùng thực phẩm; có khả năng vận động xã hội và triển khai mô hình cộng đồng hiệu quả. Đây là lợi thế mà hệ thống quản lý nhà nước khó có thể thay thế hoàn toàn.

Trong điều kiện lực lượng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành còn mỏng và sản xuất nông nghiệp vẫn phân tán, việc phát huy vai trò giám sát xã hội và giám sát cộng đồng được xem là một hướng đi phù hợp. Điều này cũng phản ánh xu hướng chuyển từ quản lý nhà nước đơn thuần sang quản trị xã hội trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

Gắn an toàn thực phẩm với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số

Dự thảo Chương trình cũng cho thấy xu hướng tích hợp ngày càng rõ giữa an toàn thực phẩm với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số ngành nông nghiệp. Các nội dung như ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, xây dựng mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh, sản xuất an toàn và phát triển sản phẩm OCOP tiếp tục được nhấn mạnh. Điều này phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại trên thế giới, khi các yêu cầu về chất lượng, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường ngày càng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường. Trong bối cảnh đó, an toàn thực phẩm không còn chỉ là “khâu cuối” của sản xuất, mà trở thành một phần của toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.

Từ “an toàn thực phẩm” đến “sức khỏe quốc gia”

Một điểm đáng chú ý trong dự thảo là việc đặt mục tiêu an toàn thực phẩm trong mối liên hệ trực tiếp với bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đây là cách tiếp cận mới, cho thấy an toàn thực phẩm đang được nhìn nhận như một cấu phần của chiến lược sức khỏe quốc gia, thay vì chỉ là nhiệm vụ quản lý ngành.

Trong bối cảnh các bệnh không lây nhiễm, ô nhiễm môi trường và các nguy cơ liên quan đến thực phẩm ngày càng gia tăng, việc xây dựng hệ thống thực phẩm an toàn, minh bạch và bền vững có ý nghĩa không chỉ về kinh tế, mà còn về chất lượng dân số và năng lực phát triển dài hạn của đất nước.

Vì vậy, dự thảo Chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2030 không chỉ là sự tiếp nối của một chương trình phối hợp liên ngành, mà còn phản ánh xu hướng chuyển đổi mô hình quản trị nông nghiệp và thực phẩm của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới: lấy sức khỏe người dân, chất lượng phát triển và tính bền vững làm trung tâm.

CTTĐT

Đánh giá bài viết:
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Phân tầng tiêu chí áp dụng khung tiêu chuẩn ESG theo quy mô doanh nghiệp

Phân tầng tiêu chí áp dụng khung tiêu chuẩn ESG theo quy mô doanh nghiệp

Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân loại tiêu chí thành tiêu chí tuân thủ pháp luật và tiêu chí tự nguyện tuân thủ áp dụng theo quy mô doanh nghiệp. Cơ chế phân tầng theo quy mô (3/6/12/18 trên 35 tiêu chí tự nguyện) được thiết kế nhằm bảo đảm khung tiêu chí vừa đủ thách thức, vừa khả thi cho từng nhóm chủ thể: hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp vừa và lớn...
Đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Đất đai để tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế và tạo không gian phát triển mới

Đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Đất đai để tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế và tạo không gian phát triển mới

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Đất đai theo hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực đất đai, đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng mô hình quản trị đất đai hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Dự thảo Báo cáo tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW và dự thảo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Ngày 11 tháng 5 năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Văn bản số 4627/BNNMT-MT về việc xin ý kiến đối với dự thảo Báo cáo tổng kết đánh giá thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW và dự thảo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu gửi các cơ quan có liên quan như: Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; các Bộ, cơ quan Trung ương; các tỉnh ủy, Thành ủy.