Sign In

Cần Thơ lập mạng lưới quan trắc môi trường nuôi thủy sản đến năm 2030

08:46 17/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Cần Thơ sẽ tổ chức quan trắc tại các nguồn nước cấp, ao nuôi đại diện và vùng nuôi thủy sản trọng điểm, đồng thời xây dựng cơ chế cảnh báo sớm để người nuôi chủ động ứng phó với biến động môi trường, dịch bệnh.

Theo dõi cả nguồn nước cấp và ao nuôi

Ngày 6/8/2026, UBND thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định số 3930/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký. 

Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở Quyết định số 966/QĐ-BNNMT ngày 23/3/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về phê duyệt Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường trong nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2026-2030. 

Theo UBND thành phố Cần Thơ, việc quan trắc, cảnh báo môi trường được đặt trong bối cảnh hoạt động nuôi trồng thủy sản của thành phố tiếp tục phát triển, trong khi chất lượng môi trường nước tại các vùng nuôi có thể chịu tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, đô thị hóa, phát triển công nghiệp và gia tăng nguồn thải. Đây là những yếu tố làm tăng nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. 

Kế hoạch cho thấy phạm vi quan trắc được tổ chức theo hướng gắn chất lượng nguồn nước với từng vùng sản xuất. Đối tượng quan trắc là chất lượng môi trường nước mặt tại khu vực cấp nước cho các đối tượng nuôi chủ lực, có giá trị kinh tế như cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng; trong đó bao gồm cả nước cấp và ao nuôi đại diện. 

Cần Thơ lập mạng lưới quan trắc môi trường nuôi thủy sản. Ảnh: Trọng Linh.

Đối với vùng nuôi nước ngọt, trọng tâm là cá tra và các loài cá nước ngọt. Kế hoạch bố trí các điểm quan trắc trên tuyến sông Hậu và hệ thống sông, kênh tại những vùng nuôi trọng điểm, đồng thời theo dõi tại các ao nuôi đại diện. Riêng danh sách địa điểm trong phụ lục cho thấy các điểm được phân bố tại nhiều khu vực như Vĩnh Trinh, Thuận Hưng, Thới Long, Ô Môn, Thới Hưng và các địa bàn khác. 

Đối với vùng nuôi tôm nước lợ, kế hoạch xác định diện tích nuôi tôm của thành phố là 52.490ha, trong đó tôm sú 12.690ha và tôm thẻ chân trắng 39.790ha. Các vùng trọng điểm được đưa vào mạng lưới quan trắc gồm nhiều địa bàn như Cù Lao Dung, Nhu Gia, Ngọc Tố, Hòa Tú, Gia Hòa, Lai Hòa, Vĩnh Hải, Trần Đề, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Khánh Hòa, Vĩnh Phước và Vĩnh Châu. Thành phố bố trí 16 điểm quan trắc vùng nước lợ, mặn tại các điểm đầu nguồn của 10 vùng nuôi tôm trọng điểm. 

Kế hoạch liệt kê cụ thể các địa điểm quan trắc. Với khu vực nước ngọt có các điểm trên sông Cái Sắn, sông Hậu, kênh KH6 và các tuyến sông, kênh khác; trong khi khu vực nước lợ gồm các điểm tại cầu, cống, vàm, kênh ở Khánh Hòa, Vĩnh Phước, Lai Hòa, Ngọc Tố, Nhu Gia, Hòa Tú, Trần Đề, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú và Cù Lao Dung. 

Cách bố trí này cho phép theo dõi môi trường tại cả nguồn nước phục vụ sản xuất và ao nuôi đại diện. Kế hoạch cũng quy định phương pháp lấy mẫu cụ thể: tại khu vực nước cấp và vùng nước mở, điểm thu mẫu được bố trí theo chiều rộng sông, kênh; đối với ao nuôi, mẫu được lấy tại ba điểm theo đường chéo ao rồi trộn thành một mẫu chung. 

Cảnh báo sớm, đưa thông tin đến người nuôi

Ngoài lấy mẫu và phân tích, kế hoạch đặt mục tiêu sử dụng kết quả quan trắc để phục vụ dự báo, cảnh báo và khuyến cáo kỹ thuật. Các thông tin về môi trường nước sẽ được sử dụng để hỗ trợ cơ quan quản lý chỉ đạo sản xuất, đồng thời cung cấp cho người nuôi các khuyến cáo về thời vụ thả giống, lấy nước, xử lý nước, quản lý ao nuôi và phòng ngừa rủi ro môi trường. 

Các nhóm thông số được theo dõi khá rộng, gồm thông số môi trường thông thường; nhóm chất dinh dưỡng; kim loại nặng và hóa chất độc hại; thuốc bảo vệ thực vật và phiêu sinh vật; cùng các nhóm vi sinh vật gây bệnh. Đối với nước ngọt, các chỉ tiêu môi trường thông thường gồm oxy hòa tan, pH, nhiệt độ, độ mặn, COD, TSS, kiềm; trong khi các nhóm chỉ tiêu khác bao gồm nitơ, phốt pho, kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật và vi sinh vật. 

Tần suất quan trắc được quy định theo từng nhóm chỉ tiêu. Các thông số pH, nhiệt độ, độ mặn và oxy hòa tan được đo trực tiếp tại hiện trường 4 lần/tháng. Các chỉ tiêu thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng được thu và phân tích 55 mẫu/năm. Đối với nhóm dinh dưỡng và vi sinh, năm 2026 thực hiện tổng cộng 824 mẫu/năm, từ năm 2027 đến 2030 là 624 mẫu/năm. 

Riêng vùng nuôi tôm nước lợ, mẫu được thu 2 đợt/tháng tại 20 điểm, tổng cộng 424 mẫu/năm. Vùng nuôi cá tra nước ngọt trong năm 2026 lấy mẫu 4 đợt/tháng tại 10 điểm, gồm 5 điểm nước cấp và 5 ao nuôi đại diện, tổng cộng 400 mẫu. Từ năm 2027 đến 2030, tần suất tại 10 điểm này được xác định là 2 đợt/tháng, tương ứng 200 mẫu/năm. 

Một yêu cầu đáng chú ý là kết quả quan trắc phải được tổng hợp, xử lý và phát hành bản tin trong thời gian sớm nhất, chậm nhất không quá 3 ngày kể từ khi hoàn thành và có kết quả phân tích. Bản tin quan trắc, cảnh báo và khuyến cáo kỹ thuật được cung cấp đến các cơ quan, đơn vị, địa phương và người nuôi. 

Thông tin cũng được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Sở Nông nghiệp và Môi trường và các hệ thống thông tin theo quy định. Kế hoạch đề cập việc phát hành bản tin định kỳ đến địa phương, hệ thống truyền thanh cơ sở; gửi cảnh báo, khuyến cáo đến người nuôi qua tin nhắn SMS hoặc các nền tảng số phù hợp; đồng thời từng bước ứng dụng nền tảng trực tuyến để theo dõi và cảnh báo chất lượng nước. 

Cùng với đó, Cần Thơ sẽ tổ chức 25 lớp tập huấn, mỗi lớp 50 học viên tại các xã, phường có diện tích nuôi thủy sản trọng điểm. Nội dung tập trung vào theo dõi, kiểm soát các yếu tố môi trường, quản lý chất lượng nước, phòng ngừa dịch bệnh, xử lý môi trường ao nuôi và ứng dụng kết quả quan trắc trong tổ chức sản xuất. 

Thành phố cũng dự kiến liên kết với Đài khí tượng thủy văn để cung cấp các bản tin dự báo thời tiết, khí tượng, thủy văn theo tháng và quý, trong đó có thông tin về nhiệt độ, độ mặn, thủy triều, mưa, bão. Tổng số dự kiến 14 bản tin, gồm 10 bản tin tháng, 3 bản tin quý và 1 bản tin năm. 

Để triển khai kế hoạch, tổng kinh phí giai đoạn 2026-2030 được xác định 10.235.837.800 đồng, từ ngân sách nhà nước bảo đảm theo khả năng cân đối hằng năm. Trong đó, riêng kinh phí quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản là hơn 7,819 tỷ đồng. Kinh phí dành cho thông tin, truyền thông hơn 1,311 tỷ đồng; nâng cao năng lực cán bộ gần 403 triệu đồng; cùng các khoản phục vụ quản lý kế hoạch, kiểm tra, giám sát và quan trắc tự động. 

L.Nhi

Đánh giá bài viết:
★ ★ ★ ★ ★
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)

TPHCM quy định tạm 6 bến cá nhằm sớm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" EC

UBND TP.HCM vừa ký quyết định công bố tạm thời 6 điểm lên cá (bến cá) trên địa bàn thành phố nhằm tăng cường kiểm soát, ngăn chặn hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Thời gian áp dụng quyết định đến hết ngày 31/12/2027.

Sửa đổi, bổ sung 3 thủ tục hành chính về thủy sản, kiểm ngư

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 3663/QĐ-BNNMT về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.
Không để tàu cá ‘3 không’ ra khơi

Không để tàu cá ‘3 không’ ra khơi

Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã ký ban hành Công văn số 14562/UBND-NNMT, yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương ven biển tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).