Sign In

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước ngầm

09:19 07/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất do nguy cơ xâm nhập mặn hoặc suy giảm mực nước, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi sang nguồn cấp tập trung.

UBND TP.HCM vừa ban hành Quyết định số 4724/QĐ-UBND phê duyệt Danh mục, Bản đồ phân vùng và Phương án tổ chức thực hiện hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn thành phố.

Đây là cơ sở giúp các cơ quan quản lý có căn cứ kiểm soát việc khoan giếng, cấp phép, gia hạn giấy phép và từng bước chuyển đổi sang nguồn nước cấp tập trung góp phần quản lý thống nhất tài nguyên nước dưới đất trên toàn địa bàn sau sắp xếp đơn vị hành chính.

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước ngầm. Ảnh: Nguyễn Thủy.

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước ngầm. Ảnh: Nguyễn Thủy.

80 khu vực được phân loại theo mức độ rủi ro

Theo danh mục kèm theo Quyết định, TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất. Qua tổng hợp phụ lục, có 73 khu vực thuộc vùng hạn chế 1 và 7 khu vực thuộc vùng hạn chế 2.

Vùng hạn chế 1 chủ yếu là những nơi có nguy cơ bị xâm nhập mặn hoặc nguồn nước dưới đất đã xuất hiện dấu hiệu nhiễm mặn. Vùng hạn chế 2 là những khu vực có mực nước động vượt giới hạn mực nước khai thác cho phép.

Đối với các tầng chứa nước lỗ hổng, giới hạn mực nước khai thác được xác định không quá 40 m; với tầng chứa nước trong đá bazan và đá khe nứt, giới hạn không quá 50 m. Việc phân vùng không chỉ căn cứ địa giới hành chính mà còn được xác định theo từng tầng chứa nước và khoảng chiều sâu cụ thể.

Danh mục được chia thành ba nhóm địa bàn tương ứng với phạm vi TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi sắp xếp đơn vị hành chính. Trong đó, khu vực TP.HCM trước sắp xếp có 60 mục; khu vực Bình Dương trước sắp xếp có một mục tại phường Lái Thiêu; khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước sắp xếp gồm các mục từ số 62 đến số 80.

Tại khu vực đô thị trung tâm và phía Đông thành phố, nhiều địa bàn được xác định có nguy cơ xâm nhập mặn như các phường An Khánh, Thủ Đức, Bình Trưng, Cát Lái, Hiệp Bình, Long Bình, Long Phước, Long Trường, Sài Gòn và Bến Thành. Một số khu vực thuộc phường Thủ Đức, Linh Trung và Linh Xuân được xếp vào vùng hạn chế 2 do mực nước động vượt giới hạn khai thác.

Ở phía Nam và Tây Nam, danh mục bao gồm các xã Nhà Bè, Hiệp Phước, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Lợi, Hưng Long, Vĩnh Lộc và nhiều địa bàn khác. Phạm vi hạn chế có thể chỉ áp dụng đối với một số tầng chứa nước hoặc một khoảng chiều sâu nhất định, thay vì cấm khai thác đồng loạt trên toàn bộ địa bàn.

Danh mục 80 khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất được chia thành ba nhóm địa bàn tương ứng với phạm vi TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi sắp xếp đơn vị hành chính. Ảnh: Lê Bình.

Danh mục 80 khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất được chia thành ba nhóm địa bàn tương ứng với phạm vi TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi sắp xếp đơn vị hành chính. Ảnh: Lê Bình.

Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước sắp xếp, danh mục ghi nhận các địa bàn như Vũng Tàu, Tam Thắng, Rạch Dừa, Phước Thắng, Long Sơn, Bà Rịa, Phú Mỹ, Tân Phước, Tân Hải, Long Điền, Long Hải, Đất Đỏ, Phước Hải, Bình Châu, Xuyên Mộc và Hồ Tràm. Riêng khu vực gồm các phường Vũng Tàu, Tam Thắng, Rạch Dừa, Phước Thắng và xã Long Sơn, phạm vi vùng hạn chế được xác định gồm toàn bộ khu vực.

Bốn khu vực cuối danh mục, gồm phường Tân Thành, xã Hòa Hiệp, xã Hòa Hội và xã Hồ Tràm, thuộc vùng hạn chế 2 do mực nước động vượt giới hạn khai thác.

 

Do danh mục được lập theo phạm vi hành chính, tầng chứa nước, diện tích và chiều sâu, một phường hoặc xã có thể xuất hiện ở nhiều mục khác nhau. Vì vậy, con số 80 được hiểu là 80 khu vực, phạm vi hạn chế cụ thể, không nhất thiết tương ứng với 80 đơn vị hành chính riêng biệt.

Không cấp phép công trình khai thác mới

Một trong những nội dung quan trọng của phương án là không chấp thuận đăng ký, cấp giấy phép thăm dò hoặc khai thác nước dưới đất để xây dựng công trình khai thác mới tại vùng hạn chế 1 và vùng hạn chế 2.

Đối với công trình khai thác không có giấy phép hoặc chưa đăng ký, cơ quan chức năng sẽ xử lý theo quy định. Tuy nhiên, các công trình đã được cấp phép hoặc đã đăng ký vẫn được tiếp tục hoạt động và có thể được xem xét gia hạn, điều chỉnh trên cơ sở hiện trạng nguồn nước, nhu cầu sử dụng và quy định pháp luật.

Các công trình cấp nước sinh hoạt chưa được cấp phép hoặc đăng ký cũng có thể được xem xét hoàn thiện thủ tục. Đối với vùng hạn chế 2, trường hợp mực nước động tiếp tục suy giảm vượt ngưỡng sẽ được áp dụng biện pháp xử lý riêng, phù hợp với giới hạn khai thác của từng tầng chứa nước.

Mặt khác, việc công bố vùng hạn chế không đồng nghĩa với yêu cầu đóng ngay toàn bộ giếng đang hoạt động. Mỗi công trình sẽ được xem xét theo tình trạng pháp lý, mục đích sử dụng, tầng khai thác, chiều sâu và khả năng cung cấp nguồn nước thay thế.

Đối với giếng không còn sử dụng, bị hư hỏng hoặc khai thác không đúng quy định, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện trám lấp theo đúng quy trình kỹ thuật. Riêng tại khu vực nông thôn chưa có hệ thống cấp nước tập trung ổn định, việc vận động trám lấp giếng phục vụ sinh hoạt hộ gia đình chỉ được thực hiện sau khi có nguồn nước thay thế bảo đảm cả lưu lượng và chất lượng.

Mở rộng mạng lưới nước sạch để giảm khai thác

Để phương án đi vào thực tế, TP.HCM yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường công bố công khai danh mục và bản đồ phân vùng; thống kê các công trình khai thác hiện có; theo dõi, kiểm tra và hướng dẫn thực hiện các biện pháp hạn chế. Hằng năm, ngành nông nghiệp và môi trường phải tổng hợp kết quả khai thác; định kỳ sau 5 năm hoặc khi cần thiết sẽ tham mưu rà soát, điều chỉnh phạm vi các vùng hạn chế.

TP.HCM siết chặt quản lý tài nguyên nước. Ảnh: Tường Tú.

TP.HCM siết chặt quản lý tài nguyên nước. Ảnh: Tường Tú.

Sở Xây dựng thành phố và các đơn vị cấp nước có trách nhiệm nâng cao năng lực hệ thống cấp nước tập trung, đẩy nhanh việc phủ kín mạng lưới, giảm thất thoát nước và chuẩn bị nguồn cấp dự phòng. Những khu vực đang hạn chế khai thác nước dưới đất được ưu tiên giải quyết nhu cầu đấu nối, nhất là đối với hộ gia đình, trạm cấp nước nông thôn và các đối tượng sử dụng nước thiết yếu.

UBND các phường, xã và đặc khu phải thường xuyên rà soát các cơ sở, hộ gia đình đang khai thác nước dưới đất; tiếp nhận kê khai, cập nhật dữ liệu và kịp thời báo cáo khi phát hiện vi phạm, ô nhiễm, nhiễm mặn hoặc dấu hiệu suy giảm nguồn nước.

Phương án cũng đặt ra nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, ưu tiên nguồn nước cho sinh hoạt, phòng chống thiên tai và phòng cháy, chữa cháy. Quá trình chuyển đổi phải thực hiện theo lộ trình, không gây gián đoạn việc cấp nước cho người dân và hoạt động sản xuất.

Nguyễn Thủy - Lê Bình

Đánh giá bài viết:
(lượt đánh giá: 0, trung bình: 0)
Những điểm mới trong quản lý chuyển nước và vận hành liên hồ chứa

Những điểm mới trong quản lý chuyển nước và vận hành liên hồ chứa

Quy định mới về chuyển nước lưu vực sông và vận hành liên hồ hướng tới quản lý nguồn nước linh hoạt, đồng bộ và sát thực tiễn hơn.
Nguồn nước tăng, thuận lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn nước tăng, thuận lợi cho đồng bằng sông Cửu Long

Nửa đầu tháng 9/2026, nguồn nước về đồng bằng sông Cửu Long được nhận định thuận lợi, song cuối kỳ cần đề phòng ngập cục bộ do dòng chảy thượng nguồn kết hợp triều tăng.
Chủ động giữ nguồn nước trước El Niño 2026-2027

Chủ động giữ nguồn nước trước El Niño 2026-2027

Cục Quản lý tài nguyên nước vừa có Báo cáo số 237/BC-TNN ngày 4/9/2026 gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đánh giá nguy cơ thiếu hụt nước do El Niño. Đồng thời đề xuất giải pháp bảo đảm nước sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, góp phần giữ vững an ninh lương thực, năng lượng.