Sau hơn 4 năm thí điểm, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt khoảng 169.800 ha, diện tích liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp gần 121.000 ha. Quan trọng hơn, phương thức tổ chức sản xuất theo chuỗi từng bước được hình thành.
Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ chế biến và tiêu thụ giai đoạn 2022-2025 được thực hiện theo Quyết định số 1088/QĐBNN-KTHT được triển khai tại 5 vùng nguyên liệu thuộc 11 tỉnh.
Qua hơn 4 năm thực hiện, Đề án đã tạo chuyển biến về quy mô vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và đầu tư kết cấu hạ tầng; đồng thời bước đầu hình thành phương thức tổ chức phát triển vùng nguyên liệu theo hướng Nhà nước kiến tạo và đầu tư hạ tầng thiết yếu; hợp tác xã (HTX) tổ chức sản xuất và điều phối vùng nguyên liệu; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, chế biến và tiêu thụ; người sản xuất là chủ thể tham gia chuỗi giá trị.
Đến cuối năm 2025, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt khoảng 169.800 ha, tăng 33.800 ha, tương đương 20% so với trước khi triển khai Đề án. Đáng chú ý, diện tích có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha, chiếm 71,2%, tăng mạnh so với khoảng 17.000 ha trước khi triển khai.
Hợp tác xã trở thành đầu mối tổ chức sản xuất
Một chuyển biến quan trọng là phương thức tổ chức sản xuất tại các vùng nguyên liệu từng bước chuyển từ nhỏ lẻ, phân tán sang tổ chức theo vùng, theo chuỗi giá trị.
Trong đó, HTX dần chuyển từ vai trò cung ứng dịch vụ, thu mua đơn thuần sang tổ chức sản xuất, tập hợp hộ thành viên, quản lý chất lượng, cung ứng dịch vụ và làm đầu mối liên kết với doanh nghiệp.
Tại các vùng nguyên liệu đã có hơn 123 HTX được thành lập mới hoặc củng cố, nâng tổng số HTX tham gia lên 393 HTX. Trên 5.500 lượt cán bộ quản lý và thành viên HTX được đào tạo, tập huấn về quản trị, tổ chức sản xuất, ứng dụng phần mềm kế toán và truy xuất nguồn gốc.
Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ chế biến và tiêu thụ giai đoạn 2022-2025 tạo chuyển biến về quy mô vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và đầu tư kết cấu hạ tầng. Ảnh: LK. Thực tiễn cho thấy, HTX có năng lực tổ chức sản xuất là điều kiện nền tảng để hình thành và duy trì vùng nguyên liệu, bởi doanh nghiệp khó có thể trực tiếp tổ chức hàng nghìn hộ sản xuất phân tán.
Liên kết chuỗi giá trị cũng có bước phát triển rõ rệt. Đến hết năm 2025, các địa phương đã hình thành hơn 90 chuỗi liên kết, tăng 65 chuỗi so với thời điểm bắt đầu triển khai. Số doanh nghiệp, nhà máy thu mua, chế biến tham gia tăng từ 11 lên 27 đơn vị.
Vai trò của doanh nghiệp cũng có sự thay đổi khi không chỉ thực hiện thu mua mà từng bước tham gia hướng dẫn sản xuất theo tiêu chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật và đặt ra yêu cầu chất lượng phù hợp với thị trường.
Kết quả thực tế cho thấy những vùng có doanh nghiệp tham gia từ sớm, phương án tiêu thụ tương đối rõ và HTX đủ năng lực làm đầu mối thường duy trì liên kết tốt hơn.
Tuy nhiên, mô hình liên kết vẫn chủ yếu dựa trên các hợp đồng ngắn hạn; cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro và trách nhiệm giữa các bên chưa thực sự ổn định. Đây là vấn đề cần tiếp tục khắc phục trong giai đoạn 2026-2030.
Đầu tư hạ tầng theo "điểm nghẽn"
Đầu tư hạ tầng là một trong những hợp phần tạo tác động rõ nét nhất. Trong giai đoạn thí điểm đã nâng cấp, sửa chữa 141,38 km đường giao thông, đạt 108% kế hoạch; xây dựng 9 cầu, đạt 112%; nâng cấp 6 km kênh; xây dựng 5 trạm bơm và 11 cống điều tiết. Một số công trình bảo quản, sơ chế và tập kết nông sản cũng được đầu tư, tạo điều kiện kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở thu gom, chế biến và thị trường.
Tác động của hạ tầng không chỉ nằm ở số km đường hay số lượng công trình hoàn thành mà còn ở khả năng thay đổi chức năng của vùng nguyên liệu, giảm chi phí sản xuất và logistics.
Tại vùng cây ăn quả Trung du và miền núi phía Bắc, giao thông được cứng hóa tạo điều kiện để xe vận chuyển lớn tiếp cận vùng sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thu mua.
Tại vùng gỗ rừng trồng, đường lâm sinh và bãi tập kết giúp giảm chi phí vận chuyển và tổn thất gỗ. Tại vùng lúa Tứ giác Long Xuyên, hạ tầng thủy lợi và giao thông góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí logistics. Còn tại vùng cây ăn quả Đồng Tháp Mười, hạ tầng giao thông và cầu nông thôn góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển, hình thành chuỗi chế biến - bảo quản - xuất khẩu.
Từ thực tiễn này, cách tiếp cận trong giai đoạn 2026-2030 được đặt ra là chuyển từ “đầu tư theo danh mục công trình” sang “đầu tư theo điểm nghẽn và hiệu quả của cả chuỗi giá trị”.
Từ ứng dụng số sang quản trị bằng dữ liệu
Việc phát triển vùng nguyên liệu cũng ngày càng gắn với tiêu chuẩn chất lượng, mã số vùng trồng, chứng nhận sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, dữ liệu vùng nguyên liệu, mã số vùng sản xuất, nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc còn phân tán, chưa được chuẩn hóa và kết nối thống nhất với cơ sở dữ liệu ngành.
Do đó, giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu chuyển từ ứng dụng số ở từng khâu sang quản trị vùng nguyên liệu dựa trên dữ liệu; bảo đảm bản đồ vùng, thông tin chủ thể, diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn, mã số, hợp đồng liên kết và kết quả sản xuất được cập nhật, chia sẻ và khai thác thống nhất.
Kết quả thí điểm cho thấy sự thay đổi không chỉ nằm ở quy mô diện tích. Quan trọng hơn là vùng sản xuất từng bước chuyển từ phân tán sang có tổ chức; HTX trở thành đầu mối tổ chức, điều phối chuỗi; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ; hạ tầng gắn với chuỗi giá trị, còn tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành điều kiện của thị trường.
Đó là cơ sở thực tiễn để phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 2026-2030 theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, lấy hiệu quả chuỗi giá trị và khả năng duy trì sau đầu tư làm tiêu chí lựa chọn, đánh giá.