Theo chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, Vĩnh Long phấn đấu trồng mới 100ha rừng.
Theo đó, bình quân mỗi năm tỉnh trồng 20 ha, chăm sóc rừng trồng 50 ha/năm, khoán bảo vệ rừng 5.258 ha/năm… Đến năm 2030, diện tích rừng toàn tỉnh khoảng 14.580 ha.
Về các sản phẩm từ lâm nghiệp, mỗi năm khai thác khoảng 82.440 m3, 405.910 ster củi, hơn 4 triệu cây tre trúc, hơn 43,47 triệu lá dừa nước và khoảng 314 tấn măng tươi.
Vĩnh Long cũng sẽ duy trì tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 là 2,3% góp phần đáp ứng các yêu cầu về môi trường cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo vệ đa dạng sinh học; nâng cao năng suất và chất lượng rừng, góp phần tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động tham gia nghề rừng.
Tăng cường quản lý nhà nước trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp sang thực hiện các dự án, chương trình phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo đúng quy định của pháp luật; Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý các hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép; Đẩy mạnh phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng giữa các ban, ngành trong tỉnh và giữa lực lượng kiểm lâm, chủ rừng, chính quyền các cấp.
Giai đoạn tới, tỉnh sẽ đẩy mạnh giao đất, giao rừng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp. Xem xét rà soát, thu hồi đất của các tổ chức, tư nhân đã được giao nhưng sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích để giao cho các đối tượng khác; Sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ rừng theo chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tổ chức thực hiện tốt các chính sách về giao, cho thuê rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp phù hợp với tiêu chí rừng, mục tiêu quy hoạch, quy chế quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Lâm nghiệp, Luật Đất đai và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trồng rừng, bảo vệ rừng, trước hết là rừng và đất lâm nghiệp quy hoạch rừng sản xuất, đồng thời khai thác hiệu quả giá trị cảnh quan rừng phòng hộ, rừng ngập mặn để phát triển du lịch sinh thái. Tăng cường huy động nguồn lực xã hội đầu tư vào du lịch, nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học. Gắn phát triển du lịch với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.
Giao cho các đơn vị chủ rừng kiểm kê đánh giá chi tiết hiện trạng rừng và đất khác, những nơi có dân xâm canh, quản lý bảo vệ tốt những diện tích rừng hiện có, nhất là phòng hộ ven biển. Các đơn vị chủ rừng phải xây dựng phương án quản lý bền vững đối với rừng phòng hộ và rừng sản xuất và cấp chứng chỉ rừng trồng; tổ chức lực lượng bảo vệ rừng, bố trí đủ các trạm bảo vệ rừng phân bố trong lâm phận, đảm bảo quản lý tốt diện tích rừng và đất lâm nghiệp của đơn vị.