Ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch HĐQT ThaiBinh Seed cho rằng, xuất khẩu giống cây trồng là một hướng đi cần được quan tâm hơn trong chiến lược phát triển nông nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào xuất khẩu nông sản thô.
Theo ông, Việt Nam hiện có nhiều tiến bộ trong chọn tạo và sản xuất giống, đặc biệt ở một số cây trồng chủ lực. Tuy nhiên, việc đưa giống ra thị trường quốc tế còn hạn chế, chủ yếu do thiếu cơ chế phối hợp và định hướng rõ ràng.
Ông dẫn ví dụ từ Campuchia, quốc gia láng giềng, có nhiều điều kiện tương đồng, như một cơ hội cụ thể để triển khai. Theo ông Báo, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia sâu hơn vào sản xuất nông nghiệp tại đây thông qua cung cấp giống, tổ chức vùng trồng và liên kết xuất khẩu.
“Chúng ta cần khai thác thị trường này một cách bài bản”, ông nói tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng bàn biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 4/5. Đồng thời, kiến nghị Bộ làm việc trực tiếp với phía Campuchia hoặc tổ chức đoàn chuyên ngành sang trao đổi, xây dựng cơ chế hợp tác chính thức.
Ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch HĐQT ThaiBinh Seed. Ảnh: Bảo Thắng.Theo ông, nếu có khuôn khổ hợp tác giữa hai nước, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong đăng ký giống, triển khai sản xuất và hạn chế rủi ro khi phát sinh tranh chấp. Ngược lại, nếu để hoạt động diễn ra tự phát, việc quản lý và bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn.
Ông cũng cho rằng sản xuất trồng trọt trong nước, đặc biệt với các cây truyền thống như lúa, ngô, sắn... còn hạn chế về mức độ đầu tư và ứng dụng công nghệ. Trong khi đó, các nước trong khu vực đã có sự tham gia mạnh hơn của doanh nghiệp và đầu tư bài bản hơn, tạo ra áp lực cạnh tranh.
Bổ sung quan điểm này, ông Trần Xuân Định, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam chỉ ra, dư địa phát triển của ngành giống còn rất lớn, trong bối cảnh xuất khẩu rau quả tăng nhanh từ dưới 1 tỷ USD lên khoảng 10 tỷ USD trong hơn một thập kỷ qua.
Ông Trần Xuân Định, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.Theo ông, nhu cầu về giống chất lượng cao ngày càng tăng, nhưng năng lực sản xuất trong nước còn hạn chế, đặc biệt với các giống rau lai và giống công nghệ cao. Hiện khoảng 90% hạt giống rau phải nhập khẩu, trong khi trong nước chủ yếu mới sản xuất được các giống đơn giản.
Ông cũng cho biết nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phản ánh vướng mắc trong quá trình nhập khẩu giống. Một trong những vấn đề lớn là quy định kiểm dịch hiện hành yêu cầu lấy mẫu với chi phí cao, dù giá trị lô hàng nhỏ. Có trường hợp chi phí lấy mẫu lên tới hàng chục triệu đồng, trong khi lô hàng chỉ gồm một số ít chủng loại giống.
“Có những lô hàng chỉ vài giống nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ quy trình lấy mẫu, làm tăng chi phí rất lớn cho doanh nghiệp”, ông nói, đồng thời đề nghị cần điều chỉnh quy chuẩn theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù mặt hàng.
Ngoài ra, ông Định cho rằng Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các hệ thống và mạng lưới giống quốc tế, từ đó nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất và từng bước hướng tới xuất khẩu giống. Từ đó, ông đề xuất rà soát các quy định liên quan đến kiểm dịch, phân loại hàng hóa và chính sách thuế, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ngành giống mạnh hơn.
Xuất khẩu giống, thực tế, không còn dừng ở một loại hàng hóa, mà đang được đặt trong định hướng xuất khẩu “hệ sinh thái nông nghiệp”. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành nông nghiệp đang chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sang xuất khẩu giá trị gia tăng cao, trong đó khoa học công nghệ, quy trình sản xuất và chuỗi giá trị đóng vai trò trung tâm.
Nghiên cứu giống lúa tại Viện Di truyền Nông nghiệp. Ảnh: NNMT.Thống kê cho thấy, khoa học công nghệ đã đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, trải rộng từ giống, canh tác, bảo vệ thực vật đến chế biến và truy xuất nguồn gốc. Đây là nền tảng để hình thành các gói “xuất khẩu trọn gói”, bao gồm giống, kỹ thuật, thiết bị và tổ chức sản xuất, thay vì chỉ bán nông sản thô.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng đề án xuất khẩu hệ sinh thái ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045. Một số thị trường được xác định là “đối tác thân thiết” trong giai đoạn đầu triển khai dự án được xác định, gồm Lào, Campuchia, Cuba, hoặc các quốc gia châu Phi, nơi có nhu cầu cao về giải pháp canh tác, quản lý chuỗi giá trị và đào tạo nhân lực nông nghiệp.
Định hướng này cũng được nhấn mạnh ở cấp cao, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu ngành nông nghiệp phải “xuất khẩu công nghệ nông nghiệp ra nước ngoài”, từng bước đưa kinh nghiệm, mô hình sản xuất và cả ngành nông nghiệp Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh đó, giống cây trồng được xem là điểm khởi đầu của chuỗi giá trị. Từ giống, doanh nghiệp có thể mở rộng sang chuyển giao kỹ thuật, tổ chức vùng trồng, cung ứng vật tư và thiết bị, hình thành các mô hình sản xuất tại nước ngoài.
Nếu được triển khai đồng bộ, xuất khẩu giống có thể trở thành “cửa ngõ” để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ xuất khẩu hàng hóa sang xuất khẩu năng lực sản xuất, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và vị thế trên thị trường quốc tế.